Sign up
TCVN Van son
dactran | 17 Dec, 2011, 04:45 | Chung | (27 Reads)
 
 
 TA P SAN VĂN NGHỆ VÂN SƠN SỐ 1
 

                                      RAU DIẾP DẠI

                                                    Truyện ngắn của Cầm Sơn
                            
 

Xóm Vắng cách biệt với thị trấn phố huyện bằng một dòng sông, gọi là sông nhưng mùa cạn vẫn có thể lội qua được, đằng sau xóm là núi và rừng nên mặc dù không xa phố huyện là bao nhưng dân trong xóm rất ít các mối quan hệ giao du, vậy mới gọi là xóm Vắng.

  Phần lớn trẻ con xóm Vắng chỉ học hết cấp một sau đó ở nhà phụ giúp bố mẹ làm gạch. Cả xóm Vắng gần như nhà nào cũng có lò gạch, khói lò lơ lửng mù trời, khí than tanh nồng, khét lẹt ngày đêm tràn sang cả phố huyện.

  Mười một tuổi, Thương đã phải sang bên thị trấn để học bởi xóm Vắng không có trường cấp hai. Cũng may là được Dũng cùng đi, Dũng học trước Thương Hai lớp. Hôm nào Dũng cũng chờ  ở bến để  giúp Thương lội qua sông.  Khổ nhất là những ngày mưa lũ không lội được sông, phải đi bộ ba cây số mới có cầu qua bên thị trấn. Nhà Thương chỉ có hai mẹ con, từ khi Thương lên thị trấn học , bà Hà lại càng thêm vất vả, dáng người đã nhỏ càng thêm quắt queo dưới sức nặng của đôi quang xếp đầy gạch gánh vào lò hoặc ngược lại. Tuy vậy, bà vẫn nhất quyết cho Thương đi học. Có lẽ do thương cảm với hoàn cảnh của bà, chủ nhiệm Hợp tác xã thủ công Thanh Vân là ông Thêm bàn với Ban chủ nhiệm cử bà ra bến sông làm người chở đò, với lý do rằng: những ngày mưa, nước sông sâu hoặc mùa đông rét mướt, xóm vẫn cần có một con đò. Thế là từ đấy, mẹ con Thương được bố trí một miếng đất cạnh bến sông để làm túp lều ở gần bến đò cho tiện. Tuy nhiên, những ngày nắng ráo, nước sông cạn, người xóm Vắng vẫn cứ lội chứ không cần đò của mẹ Thương.  Bà Hà  mở thêm một quán nước dưới gốc gạo để có thêm thu nhập. Cứ tùng tiệm, chắp nhặt như vậy, bà vẫn nuôi được Thương đi học.

  Nhà mẹ con Thương nhìn thẳng ra sông, cứ mỗi dịp xuân về, hoa rau diếp dại đua nhau nở vàng rực soi đất ven sông, để rồi đến cuối xuân lại đổi sắc khoe mình bằng tấm áo bông mây trắng muốt. Những sợi bông li ti bồng bềnh nhẹ bẫng chở theo hạt mầm bung lên xoay tròn bay theo gió rồi nhẹ nhàng như những thiên thần hạ cánh xuống dòng sông. Dòng nước  lãng du cứ chảy vô tư trên sông không bao giờ quay lại, còn những thiên thần thì  không thể  đi theo  hành trình của dòng nước mãi, chúng đậu dần vào bờ  để nhận hơi ấm của đất mẹ mà bật mầm sinh xôi ra một thế hệ mới.

  Những buổi tan trường, Dũng thường ghé vào nhà Thương rồi cùng xuống bãi soi tha thẩn, khi thì hái một nắm rau về nấu ăn làm thuốc giải nhiệt, giải độc, khi thì xuống suối tìm những viên cuội tròn trắng bóng mang về làm chặn giấy và tặng bạn bè, khi thì hái hoa diếp dại thổi mạnh cho cánh bông tung lên để  rồi chúng lại nhẹ nhàng đậu xuống mặt sông.

 Thế rồi, thời gian cũng vô tư lãng tử như nước dòng sông chở những mùa hoa diếp dại qua đi. Dũng học hết phổ thông thi đậu vào trường Đại học Xây Dựng. Chỉ hai năm sau, Thương cũng thi đậu khoa kế toán trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Hai trường ở gần nhau, họ lại có dịp qua lại, thăm hỏi, động viên, chăm sóc nhau. Rồi họ yêu nhau, khi người ta yêu nhau thì trong mắt họ chân trời phía trước  ngập tràn xanh hy vọng, vàng rực như màu hoa rau diếp dại trên soi đất ven sông trước cừa nhà khi mùa xuân đến.

  Lúc Thương ra trường thì Dũng đã thôi không làm việc ở công ty Quốc doanh để về giữ chân Phó giám đốc cho Công ty của ông chú họ đang làm ăn phát đạt.

  “ Cuộc tình duyên ban đầu, mấy ai may mắn chung nhịp cầu..”.Lời bài ca buồn thế mà hình như ai đi qua nhịp cầu ấy cũng đều thấy đúng. Khi Dũng đặt vấn đề hôn nhân với Thương thì bị gia đình phản đối, gay gắt nhất là bà mẹ Dũng. Mẹ Dũng bảo “ Con bé ấy là đứa không cha, không thể về làm dâu trưởng của họ tộc nhà này được!”.

  Thực ra thì Thương cũng có bố, bố Thương tên Liên, khi chưa kịp làm đám cưới với mẹ Thương thì Liên lên đường nhập ngũ. Lúc làm giấy khai sinh, Liên gửi thư về xác nhận đứa bé là con mình và yêu cầu đặt tên là Thương,   rồi Liên đã chìm vào cõi vĩnh hằng trên mảnh đất  phía Tây – Nam nơi tận cùng tổ Quốc.

  Thương choáng váng vùi đầu vào đống chăn, úp măt trên gối mất mấy ngày. Bà Hà đi ra đi vào ngơ ngác.

   Khi đã vượt qua  giới hạn của sự khổ đau thì tự nhiên người ta trở nên tỉnh táo. Nhìn mẹ bần thần như người mất hồn, nhiều khi ngồi im bất động tựa một pho tượng, Thương càng thấy thương mẹ nhiều. Những lần Dũng qua nhà, Thương tránh mặt không gặp. Thương nói với mẹ:

 -  Mẹ con ta sẽ khó mà ở lại được nơi này, con phải đi. Vài năm sau nhất quyết con sẽ về đón mẹ cùng đi.

 - Không đâu con, để từ từ rồi mẹ tính.

 - Tính toán gì mẹ, con đã quyết rồi!

 Hôm sau, Thương ra đi gửi lại cho Dũng bức thư chỉ mấy dòng chữ:

 “ Anh Dũng! Em biết là anh rất yêu em và em cũng yêu anh. Nhưng cái duyên là do Trời định, Trời không cho chúng mình được sống cùng nhau. Đừng trách mẹ anh, mẹ anh đã rất đúng khi mai này anh sẽ là tộc trưởng một dòng họ. Hãy coi em như con bé Thương ngày nào cùng lội sông đi học. Đừng lo cho em và cũng đừng nghĩ đến em nữa.  Em đã ra đi như một giọt nước trong dòng chảy của con sông, sẽ chẳng bao giờ quay lại đâu anh. Cầu mong anh hạnh phúc!”

  Dũng cho rằng với cái bằng Đại học kế toán, Thương tìm đâu mà chả có việc. Chắc chắn Thương chỉ ở quanh quẩn đâu đây. Anh chạy đôn chạy đáo, tìm kiếm khắp nơi, gần như lục tung tất cả thành phố Hà Nội. Đến nhà  mẹ Thương không biết, bạn bè người thân cũng không ai biết. Vất vưởng mất nửa năm trời mà tin tức về Thương cứ “bặt vô âm tín”. Rồi anh lại thấy giận Thương, người gì mà gỗ đá vô tình. Đúng là giọt nước giữa dòng sông không bao giờ trở lại.

    Và rồi thì mẹ Dũng cũng cưới được vợ cho con mình. Hồng, con gái một gia đình buôn bán nhỏ bên phố huyện, ngày trước khi học phổ thông cũng cùng lớp với Thương. Mẹ Hồng và mẹ Dũng thường cùng đi chùa, đi hát cầu kinh với nhau trong các đám hiếu ở hội các vãi, hai bà thân nhau rồi gán ghép con cái cho nhau, Dũng cũng biết Hồng nhưng chỉ sơ sơ. Từ ngày Thương bỏ đi biệt tích, anh chỉ biết chúi đầu vào những công trình xây dựng, chỉ biết công ty của chú cháu anh cứ làm ăn phát đạt, vững vàng. Rồi anh cho rằng lấy vợ lập gia đình cũng là một việc, nay không phải khó nhọc gì lại được hai gia đình vun vén thì anh cũng đồng ý, coi như hoàn thành một công trình. Còn Hồng thì học cùng Thương, người lớp dưới bao giờ cũng biết người học lớp trên hơn. Dũng học giỏi, to cao đẹp trai, bây giờ lại làm ăn thành đạt, có người chồng như thế thì còn phải lo gì. Đám cưới của họ được hai gia đình tổ chức rất to, rất hoành tráng, nổi đình nổi đám ở cái phố huyện miền núi xa xôi.

  Sau khi bé Hải Anh ra đời, Hồng yêu cầu Dũng mua nhà về Thành phố cho tiện sinh hoạt vì công trình của Dũng đa phần là ở Thành phố. Dũng bảo: “ Việc gia đình, em muốn làm gì thì làm. Anh chỉ biết những công trình  xây dựng, còn mua nhà ở nơi nào thì tiền đấy,  tùy em!”

   Hồng ăn nhập với nhịp sống của Thành phố rất nhanh, chỉ trong ba năm trời ở Thành phố, Hồng đã hút phần lớn hoạt động của công ty chú cháu Dũng vào vòng xoáy cơn lốc buôn bán bất động sản. Ông chú Dũng giao tất cả cho Hồng toàn quyền trên sàn giao dịch. Hoạt động của cô không chỉ dừng lại ở Hà Nội mà còn vươn lên cả Hà Tây, Bắc Ninh, Hưng Yên... Tên tuổi Công ty gắn với tên Hồng Lém danh nổi như cồn. Nhưng ngược chiều với sự nổi tiếng  của Hồng là cái gia đình của cô càng ngày càng rạn nứt. Dũng không thể bằng lòng với những mối quan hệ mờ ám và cách làm việc theo kiểu chộp giật, lừa đảo của Hồng, còn Hồng thì cho rằng Dũng vẫn chỉ là anh chàng nhà quê cù lần bảo thủ. Quan niệm của cô  trong gia đình ai là người làm ra nhiều tiền thì người ấy có quyền quyết định cao hơn. Dũng đi về như một cái bóng, nhiều khi anh uống rượu say rồi ngủ luôn lại công trường. Thế rồi việc gì đến sẽ đến. Ngân hàng xiết chặt tín dụng, giao dịch bất động sản đóng băng. Hồng lộ rõ là một con nợ lớn không những  ở các Ngân Hàng mà còn nợ ngoài khu vực tín dụng đen lên đến hơn trăm tỷ đồng. Có điều mọi giao dịch Hồng đều lấy tên và con dấu của công ty chú cháu Dũng. Hồng đâm đơn ra tòa đòi ly dị, Dũng ký ngay không chần chừ. Tòa án xử ly hôn. Hồng mang con trốn đi biệt tích để lại cho chú cháu Dũng một món nợ kếch xù. Không nhà cửa, không gia đình, công ty phá sản, may mà chỉ là án dân sự không bị bỏ tù. Dũng quay trở về nhà với hai bàn tay trắng.

   Xóm Vắng bây giờ, tuy lò gạch của các gia đình có to hơn, tiến bộ hơn xưa nhưng vẫn là đốt gạch thủ công. Tới đây, nhà nước sẽ cấm hẳn việc sản xuất gạch bằng đốt lò thủ công vì sự cần thiết về bảo vệ môi trường. Phải xây dựng một nhà máy gạch Tuy-nen, điều ấy hẳn đã rõ, nhưng anh không có vốn. Kêu gọi đầu tư, ai dám tin anh nữa? mà dẫu có nhà máy gạch thì cũng không thể thu hút đủ nhu cầu lao động cho xóm Vắng. Vậy dân xóm anh sẽ làm gì...?

 Ngày ngày anh ra bến sông. Bến sông bây giờ đã có cây cầu. Ô tô, xe máy chạy thẳng sang thị trấn chẳng còn ai cần con đò và cái quán của bà Hà nữa. Bà Hà có tiền của Thương gửi về, nó dặn để bà tĩnh dưỡng tuổi già,  bà tằn tiện gom góp xây một ngôi nhà  nhỏ vào phía trong vườn nhưng hướng nhà vẫn nhìn ra sông. Nhiều người  mát mẻ là bà có con gái đi làm ở công ty ‘Giầy da” nên mới có tiền để xây nhà. Bà bịt tai như không nghe thấy, vui thú với mảnh vườn và đàn vịt cũng đủ sinh nhai. Rau diếp dại bây giờ không còn mọc hoang dại, nó đã được chính thức coi như một loài rau trồng, vừa làm món ăn, vừa dùng để làm thuốc chữa bệnh, bà Hà sửa lại bãi soi ven sông trồng thành hàng thành luống. Chỉ ngần ấy việc cũng đủ bận bịu cả ngày. Ai thân thiện, thông cảm thì đến chơi, còn bà rất ít đi vào trong xóm. Từ ngày Dũng về, nhà bà lại đâm ra vui, Dũng thường đến nhà giúp bà cuốc mảnh vườn, lợp lại mái chuồng vịt, có khi còn đi chợ rồi ở lại ăn cơm với bà. Những lần Dũng hỏi về Thương, bà bảo bà cũng chẳng biết nó ở nơi nào, thỉnh thoảng nó gửi tiền về, đều qua con Nguyệt, muốn nhắn gì cho nó thì cũng lại phải là con Nguyệt. Những hôm đến nhà bà Hà không có việc gì, Dũng lại xuống bãi soi, xuống sông nhặt cuội. Nước sông vẫn cần cù đêm ngày mải miết chảy xuôi mà con đường phía trước sao cứ mông lung, hun hút.
 
          Sau khi tạm biệt mẹ, Thương về Hà Nội ở hai tháng để làm thủ tục với một công ty xuất khẩu lao động rồi cô sang Hàn Quốc. Với tấm bằng Đại học kế toán lại thông thạo tiếng Anh, cô mau chóng hòa nhập với môi trường nước ngoài và cũng nhanh chóng được công ty mà cô ký hợp đồng lao động trọng dụng. Công ty Thương làm việc là một công ty trong ngành may mặc và sản xuất chăn, ga, gối, đệm nằm trong một tập đoàn công nghiệp. Cô được làm việc dưới quyền  giám đốc tài chính Park Yuong Min,  một chàng trai điềm đạm, thông minh, tốt nghiệp Đại học tại Singapo, hiểu biết rộng, quan hệ rộng và là con trai của chủ tịch tập đoàn. Chẳng mấy chốc mà thời hạn ký hợp đồng năm năm sắp hết. Yong Min chính thức cầu hôn với Thương. Trong mấy năm làm việc, Thương cũng biết là anh có cảm tình với mình và đúng là một lời cầu hôn trân trọng. Nhưng cô nói cô còn có mẹ già và cô không thể sống xa quê mãi được. Yong Min mời Thương ký tiếp hợp đồng, Thương nói với Yong Min là để về nước đã, sẽ trả lời sau, có thể cô sẽ ở lại quê để xây dựng một xưởng may và làm chăn, ga, gối, đệm giải quyết việc làm cho dân xóm Vắng quê cô. Cô rất cám ơn vì trong thời gian làm việc ở đây cô đã học được rất nhiều. Yong Min buồn, thất vọng. Nhưng là người có học thức nên anh hứa sẽ gúp đỡ, hợp tác, nếu Thương quyết định ở lại quê hương thành lập xưởng may.

   Đêm qua, Nguyệt  gọi cho Thương, Nguyệt là người bạn thân của Thương từ khi còn học phổ thông. Tất cả những bước đi của Dũng, Thương vẫn nhận được thông tin đều đặn từ Nguyệt. Thương đã thấy yên lòng khi Dũng lấy vợ rồi có con, nhưng cú phôn của Nguyệt đêm qua đã làm Thương bồn chồn. Không biết rồi Dũng sẽ đi đến đâu.

  Đã từng yêu nhau, Thương biết tuy giỏi giang nhưng Dũng không phải là người có cá tính mạnh, thậm chí còn yếu mềm, rất dễ động lòng trắc ẩn. Những người như thế, đứng trước đoạn cuối của con đường cụt, họ rất dễ nảy ra những ý nghĩ cực đoan...

 

  Chiếc Taxi chạy thẳng qua cầu rồi đỗ trước cổng nhà bà Hà. Bước từ xe xuống là một phụ nữ tuổi trạc ba mươi vừa có nét duyên dáng xinh tươi của thiếu nữ, vừa có dáng vẻ đĩnh đạc, nền nã của một thiếu phụ. Anh lái xe Taxi mở cốp giúp người phụ nữ mang đồ vào nhà. Bà Hà sững người một lúc  mới nhận ra con gái mình. Bà ôm lấy Thương xoa vuốt, nắn bóp chân tay. Ôi, con gái mẹ! Mày ở nơi nào để mẹ ngày đêm hoang hoải mỏi mòn trông ngóng. Mày có biết rằng khi mày bỏ đi, mẹ đã từng có ý nghĩ xuống bãi soi gieo mình vào dòng nước cho tâm hồn thanh thản, để không còn phải chịu những nỗi đau và sự nhục nhã ê chề ẩn ức đeo bám suốt cả cuộc đời, chỉ vì không biết mày ra sao nên mẹ phải nhắm mắt vào để sống, để chờ mày về. Bây giờ mày về đây, ở hẳn ở nhà hay rồi mày lại ra đi. Mày đi đâu thì đi, còn mẹ, mẹ không đi đâu cả. Cay chua ngọt đắng ở đất này suốt một đời rồi, mẹ sẽ về cùng với tổ tiên ở mảnh đất này thôi.

  Chiếc xe Taxi đi rồi, bà Hà bảo Thương:

 -  Dũng vẫn thường xuyên đến đây với mẹ, bây giờ nó đang ở dưới sông ấy, con cũng nên xuống đấy với nó một lát.

   Dũng ngồi một mình nhìn ra phía dòng sông, anh nhặt những hòn cuội trắng đen lẫn lộn xếp chồng lên nhau  như một Kim Tự Tháp. Thương lại gần đứng phía sau anh.

  Người ta bảo có giác quan thứ sáu. Có lẽ đúng! Chiếc xe Taxi chạy vọt qua cầu cùng với mùi nước hoa đắt tiền phảng phất phía sau đã cho Dũng hiểu đang xảy ra điều gì. Dũng không quay lại. Anh nhỏ nhẹ như nói với dòng sông hay là đang nói với chính mình:

 - Dũng vẫn đinh ninh rằng, trong vô vàn giọt nước theo dòng  chảy xuôi, ít nhất cũng có một giọt theo mưa về nguồn quay trở lại với dòng sông để chở những cánh hoa diếp dại.

 

  Thương quyết định ở lại quê làm đám cưới. Sau đó sẽ cùng Dũng xây dựng nhà máy gạch Tuy- nen và thành lập xưởng may.

  Bây giờ thì mẹ Dũng không còn gì để phản đối nữa. Nhưng bà Hà thì lại đi ra đi vào, đêm nằm bà trằn trọc không yên giấc. Thương cứ tưởng mình đã quyết định đúng, mẹ phải vui chứ. Thương gạn hỏi, bà bảo Thương rằng bà không vui thì còn có gì vui hơn được nữa, bà nghĩ là nghĩ việc khác, không thể trao đổi với Thương.

  Đời người đàn bà sao mà lắm éo le, trắc trở. Hình như các cụ ngày xưa chẳng sai tý nào khi thốt ra để bây giờ trở thành một câu ngạn ngữ: “ Thân em như hạt mưa rào, hạt sa xuống giếng, hạt vào vườn hoa” Ngày ấy, Hà và Liên cùng trang lứa, cùng sinh hoạt một chi đoàn thanh niên xóm Vắng. Liên là một trong những thanh niên hiếm hoi của xóm Vắng được học hết lớp mười. Chẳng hiểu vì sao anh không đi học tiếp lên Đại học mà lại ở nhà làm xã viên Hợp tác xã thủ công Thanh Vân, suốt ngày trộn đất đóng gạch. Những ngày mưa dầm không phơi được gạch, dân xóm Vắng hoặc vào rừng lấy củi, thu lượm thuốc Nam hoặc xuống sông kiếm con tôm con cá. Bố Liên là ông Lang làm thuốc chữa bệnh bằng cả cây thuốc Nam lẫn vị thuốc Bắc, vì thế nên Hà hay đi cùng Liên xuống bãi soi đào rau diếp dại lấy cả thân cả rễ xuống sông rửa sạch mang về để bố Liên thái nhỏ phơi khô làm thuốc chữa đau dạ dày. Liên giải thích với Hà việc Liên không thi Đại học là do Liên đi thi chắc gì đã đỗ, nhưng quan trọng hơn là nếu có đỗ Đại học thì nhà Liên nghèo, Liên thương bố mẹ. Thôi thì ở nhà vừa làm gạch, vừa học lấy cái nghề thuốc gia truyền. Nếu có cơ hội sẽ mở lò gạch hiện đại hơn, tiên tiến hơn. Ở nước ngoài người ta đã sử dụng dây truyền liên hoàn khép kín, đổ đất vào đầu này, gạch chạy ra  đầu kia, họ sử dụng nhiệt nung bằng điện, bằng khí ga không bẩn thỉu và ô nhiễm như ở ta. Cũng có  khi hai người chỉ xuống bãi soi người búng đàn, người tập hát những bài ca mới. Trời cho Hà cái nước da trắng mịn, thân hình thon thả và giọng hát trong ngần đắm đuối. Những buổi sinh hoạt chi đoàn hoặc  xã tổ chức văn nghệ thì giọng ca của Hà lại cất lên: “Bèo dạt mây í ì trôi..chốn xa khơi...” hoặc  Em đi cắt lúa trên ngàn, còn anh chiến đấu xa tràng...”... cùng tiếng đệm Tây Ban Cầm bập bùng trên tay Liên làm cho không khí nổi đình nổi đám. Tiếng đàn đã hợp với giọng hát thì đôi mắt trao duyên, đôi lòng tương ngộ. Giá mà gió cứ thổi, nước cứ trôi, hoa diếp dại cứ nở đúng mùa thì đâu đến nỗi...

   Hà được chủ nhiệm Hợp tác xã phân công lên làm thư ký Ban chủ nhiệm. Phải tiếp khách, phải trực đêm... Và rồi...Cái bụng của Hà ngày cứ một phồng to lên. Chi đoàn thanh niên, tổ đội Hợp tác kiểm điểm lên kiểm điểm xuống, Hà chẳng khai cho ai. Mọi con mắt đổ dồn về phía Liên. Liên không chịu được những con mắt soi mói như cấu da cấu thịt và sự giằng xé chính trong lòng mình đã làm đơn xin bằng được  nhập ngũ. Và anh đã ra đi như giọt nước trong dòng chảy con sông về phía hạ lưu để ra biển cả...

   Trước đám cưới hai hôm, bà Hà quyết định sang nhà ông Thêm. Sau khi theo yêu cầu của bà, ông Thêm cho mời bà Thêm cùng lên nhà nói chuyện, Bà Hà rành rọt từng câu:

 - Thưa ông bà, lẽ ra việc này tôi đã phải thưa với ông bà từ năm năm trước. Nhưng chưa kịp sang nhà thì cháu Thương đã bỏ đi. Ông Thêm đây mới đích thực là cha đẻ cháu Thương. Trước kia, ông còn làm chủ nhiệm Hợp tác xã nên tôi đã phải cố nhịn để giấu cho ông. Ông Liên chẳng qua thương tôi mà nhận cháu là con, thế  nên ông ấy mới đặt tên cháu là Thương. Nay ông Thêm cũng nghỉ lâu rồi, thời thế đã thay đổi, cũng chẳng cần giấu diếm làm gì. Mấy hôm nữa cháu nó đi lấy chồng, xin phép  bà cho ông Thêm sang nhà tôi đứng ra làm đám cưới cho cháu, cho nó có bố, khỏi tủi thân.

  Bà Thêm nhìn sang ông Thêm, ông Thêm nhìn bà Hà, bà Hà cúi đầu im lặng. Không gian chìm xuống. Sự im lặng tưởng như kéo dài cả một đời người.

   Ở đời, nhiều khi có những  việc tưởng chừng to tát như vỡ đê, lửa cháy nhưng khi xảy ra thì lại êm đẹp, nhẹ nhàng.  Bà Thêm chậm dãi:

 - Thế nào, có đúng vậy không ông?

 Ông Thêm cũng nhỏ nhẹ, mắt vẫn nhìn sang bà Hà như thể là đang nói với chính mình:

 - Bạc đầu cả rồi, chắc là bà Hà chẳng thể nói sai!

 Bà Thêm quay sang bà Hà, cất giọng to hơn và rành rẽ như một lời phán quyết:

 - Thế này bà ạ, đây mới là nhà ông Thêm, vậy nên ông Thêm không thể sang bên ấy. Cháu Thương đã là con ông Thêm thì cũng là con tôi. Bà phải đưa cháu  sang bên này để tôi và ông Thương cùng bà làm đám cưới cho cháu! Ngay chiều nay tôi sẽ cho biến báo với họ hàng và dựng rạp. Bà về bảo cháu chuẩn bị rồi tối  đưa cháu về bên này ngay nhé!

 

  Về nhà không thấy Thương, bà Hà ra vườn nhìn xuồng dòng sông. Thương và Dũng đang ở dưới bãi soi đào các phẫu diện lấy mẫu đất để kiểm nghiệm làm dự án xây dựng nhà máy gạch Tuy- nen. Mảnh vườn  rau diếp dại lại đang thi nhau trổ hoa vàng rực. Hương sắc  mùa xuân đã tràn về đến bến sông xóm Vắng.

 

                                                                                      Thanh Sơn tháng 11 năm 2011

                                                                                                         C.S

 

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=342914

Gui nguoi ven song
dactran | 20 Nov, 2011, 06:32 | Chung | (18 Reads)

           GỬI "NGƯỜI VEN SÔNG"

 

                            Đàm Tuất

  (Kính viếng Nhà giáo Nhà văn NGUYỄN ANH ĐÀO)

 

Miên man những khúc quan hoài,

Người đi ... ai viết lại lời chúng sinh.

Máu rơi đất chửa kịp xanh,

Se se cỏ lạnh - vắng tanh bóng người ...

 

Anh Đào hoa cánh tả tơi,

Nẻo về quê mẹ khăn phơi trắng đường.

Người đi ... bỏ cõi vô thường,

Rưng rưng mắt lá ngậm sương đầu cành.

 

Người đi ... hoài bão chưa thành,

Nghiệp duyên, duyên nghiệp cũng đành vậy thôi.

Phòng khuya nến cạn bấc rồi,

Văn đàn thương nhớ một "Người ven sông"! (*)

anhĐào

 

(*) Người ven sông: tên một tác phẩm văn học, tên blog của Nhà văn Nguyễn Anh Đào

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=338289

Một thoáng Xuân Thu
dactran | 28 Oct, 2011, 05:25 | Chung | (23 Reads)

Vườn cây cảnh của nhà thơ Xuân Thu

Ngày 27-10-2011 một số Văn nghệ sĩ Phú thọ có cuộc thăm gia đình nhà thơ Xuân Thu , nhân dịp qua Đoan hùng . Tôi lần đầu đến nhà anh nên rất thích thú vườn cây cảnh với nhiều cầy đẹp lại có hòn Non bộ rất hoành tráng , mỗi cây cảnh lại có một bài thơ tứ tuyệt . Sau chén rượu mừng của gia chủ là những đĩa bưởi Chi đám Đoan hùng thơm mát . Tôi tranh thủ chớp 1 pô ảnh bên hòn Non bộ

alt

Từ trái sang : Xuân Thu , Nguyễn đình Phúc , nhà văn Nguyễn hữu Nhàn ,Lê phan Nghị,họa sĩ Đỗ ngọc Dũng , Lê xuân Hương , Nguyễn thị Hồng Chính


alt

Trần như Đắc bên hòn Non bộ nhà Xuân Thu

alt

HỒN GỖ ĐÁ

Cứ tưởng khô khan là gỗ đá

Nào ngờ mộng mị ủ hồn xanh

Lá cọ cuộn tròn mơ " Cỏ lạ "

Đòi ngày bung tỏa giữa thiên thanh

( Cây nhập gia 12/1010)

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=333633

Bài hay cóp về
dactran | 05 Oct, 2011, 07:43 | Chung | (26 Reads)

altNTT: Đó là 2 bài thơ: “Khoảng trời hố bom” và “Anh đừng khen em”. Hai bài thơ được Lâm Thị Mỹ Dạ viết ra mà không nghĩ đó là những bài thơ khiến tác giả trở thành nổi tiếng trên thi đàn đầu những năm 70 của thế kỷ trước. Lúc đó chị mới 20 tuổi. Nhà phê bình Hoài Thanh đã cảm phục, gọi bài thơ “Khoảng trời hố bom” là “Một đài liệt sĩ bằng thơ”. Còn nhà thơ Trần Đăng Khoa thì ý nhị: “Lâm Thị Mỹ Dạ đẹp mà không biết mình đẹp”… 

alt

KỶ NIỆM HAI BÀI THƠ

LÂM THỊ MỸ DẠ

Trong cuộc đời làm thơ của tôi có rất nhiều kỷ niệm sâu sắc nhưng tôi không thể kể ra hết được. Ở đây, tôi chỉ muốn nhắc đến hai câu chuyện nhỏ có tính chất nghề nghiệp. Vì sao tôi có được hai bài thơ: Khoảng trời hố bom và anh đừng khen em.

Tôi  nhớ một  ngày  trong  chiến  tranh,  tôi  đi  thực  tế  trên tuyến đường 10. Tôi đã gặp một tổ đội Thanh niên xung phong. Họ có 7 cô gái.

Người tiểu đội trưởng có vẻ già hơn nhiều so với các bạn mình. Tôi hỏi chị:

- Sao chị chưa giải ngũ?

Người phụ nữ có gương mặt gầy, rắn rỏi  trả  lời  tôi, giọng chậm rãi:

- Em giải ngũ cách đây 5 năm,  lúc đó em 25 tuổi. Em trở về nhà, quê em ở Thanh Hoá, thì gia đình em chỉ còn lại một hố bom. Tất cả những người  thân yêu đã chết, không còn ai: Cha mẹ, anh chị em, ông bà đều đã bị bom cày nát. Vật duy nhất còn lại em nhặt được là những mảnh bát vỡ. Em đã quay trở lại cùng đồng đội ngay lúc đó. Và bây giờ em sẽ ở lại mãi trong gia đình này cho đến ngày thống nhất đất nước.

Sau này, trở  lại con đường đó, tôi đã gặp những hố bom đọng lại những khoảng trời đầy nước. Trong tiểu đội họ ai còn, ai mất? Có bao nhiêu người đã hy sinh để cứu con đường. những chuyện kể về họ thật mà như những huyền thoại. đêm đêm, họ đã tự thắp lên những ngọn đuốc kéo luồng bom đạn về phía mình để cứu con đường khỏi bị  thương, bài  thơ Khoảng  trời hố bom của tôi đã được viết từ những cảm xúc đó.

Một kỷ niệm khó quên nữa là vì sao tôi lại có bài thơ anh đừng khen em. Hồi đó Hội nhà văn Việt nam tổ chức khoá bồi dưỡng  những  người  viết  trẻ.  Tôi  được  cử  đi Hà nội  học.  Tôi không hiểu sao mình có thể thoát chết đi khi trong  luồng bom đạn ác liệt 500 cây số từ đồng Hới ra Hà nội. Lớp tôi có 25 anh chị. Tôi là người ít tuổi nhất, 19 tuổi. Tôi ở cùng phòng với nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn. Chị thuộc thế hệ trước tôi. Hồi đó, tôi

có quen một người bạn trai. anh quý tôi tới mức cái gì tôi làm, cái gì tôi có anh cũng đều khen. Chưa bao giờ tôi thấy anh chê trách tôi cái gì, dẫu có những việc tôi  làm không đúng. Chúng tôi thuần tuý là bạn, chưa có gì để manh nha cho một tình yêu. nhưng  tình bạn như  vậy  sẽ đi đến đâu,  có  giúp nhau được  gì trong đời sống này. nhiều khi ngồi ngẫm nghĩ thấy buồn bã quá. Tự dưng tứ thơ “anh đừng khen em” bất chợt đến. Tôi viết một mạch, đọc lại thấy nghi ngờ, không biết đây có phải là thơ hay không? Ngày đó, tôi ít tin vào khả năng thơ phú của mình. Tôi đang viết câu cuối của bài thơ thì chị Thanh Nhàn mở cửa vào. Tôi vò vội tờ giấy giụi xuống mép chiếu. Chị Nhàn chạy đến thấy được, chị tưởng tôi cất thư tỏ tình của ai. Chị giằng co tờ giấy với tôi. Cuối cùng chị đã lấy được nó. Tôi đỏ mặt thú nhận: Em làm thơ đó những không phải là thơ. Trả lại cho em đi! Chị Nhàn đọc một cách chăm chú rồi reo lên:

- Đây là bài thơ hay, có tứ lạ. Tao nói thiệt đó, thơ đây mà. Mày đừng  xé đi để  tao đưa  cho  thầy Xuân Diệu đọc  cho.

Tôi nhướng mắt vẻ nghi ngại:

- Chị không đùa em chứ? Đó đúng là thơ thiệt không đó chị Nhàn?

Chị Nhàn bảo tôi chép sạch và đưa cho thầy Xuân Diệu. Và Bài thơ anh đừng khen em của tôi được khẳng định.

Đó là những kỷ niệm đẹp mà tôi nhớ mãi trong đời làm thơ của tôi. Tình yêu không có trong tôi trước – Cuộc sống cho tôi tình yêu luôn luôn mới…

.

Khoảng Trời, hố bom

 

Chuyện kể rằng: em, cô gái mở đường

Để cứu con đường đêm ấy khỏi bị thương

Cho đoàn xe kịp giờ ra trận

Em đã lấy tình yêu Tổ quốc của mình thắp lên ngọn lửa

Đánh lạc hướng thù – Hứng lấy luồng bom…

 

Đơn vị tôi hành quân qua con đường mòn

Gặp hố bom nhắc chuyện người con gái

Một nấm mộ, nắng ngời bao sắc đá

Tình yêu thương bồi đắp cao lên…

 

Tôi nhìn xuống hố bom đã giết em

Mưa đọng lại một khoảng trời nho nhỏ

Đất nước mình nhân hậu

Có nước trời xoa dịu vết thương đau.

  

Em nằm dưới đất sâu

Như khoảng trời đã nằm yên trong đất

Đêm đêm, tâm hồn em tỏa sáng

Những vì sao ngời chói, lung linh

 

Có phải thịt da em mềm mại, trắng trong

Đã hóa thành những làn mây trắng?

 

Và ban ngày khoảng trời ngập nắng

Đi qua khoảng trời em – Vầng dương thao thức

Hỡi mặt trời, hay chính trái tim em trong ngực

Soi cho tôi

Ngày hôm nay bước tiếp quãng đường dài?

 

Tên con đường là tên em gửi lại

Cái chết em xanh khoảng trời con gái

Tôi soi lòng mình trong cuộc sống của em

Gương mặt em, bạn bè tôi không biết

Nên mỗi người có gương mặt em riêng

         

Lệ Thủy 1972 

 

 

Anh đừng khen em

 

Lần đầu khi mới làm quen

Anh khen cái nhìn em đẹp

Trời mưa, oà cơn nắng đến

Anh khen đôi má em hồng

 

Gặp người tàn tật em khóc

Anh khen em nhạy cảm thông

Thấy em sợ sét né giông

Anh khen: sao mà hiền thế!

Thấy em nâng niu con trẻ

Anh khen em thật dịu dàng

 

Khi hôn lên câu thơ hay

Áp trang sách vào mái ngực

Em nghe tim mình thổn thức

Thương người làm thơ đã mất

Trái tim giờ ở nơi đâu?

 

Khi đọc một cuộc đời buồn

Lòng em xót xa, ấm ức

Anh khen em giàu cảm xúc

Và bao điều nữa…? anh khen

 

Em sợ lời khen của anh

Như sợ chiều về, hắt tối

Nhiều khi ngồi buồn một mình

Trách anh sao mà nông nỗi

 

Hãy chỉ cho em cái kém

Để em nên người tốt lành

Hãy chỉ cho em cái xấu

Để em chăm chút đời anh

 

Anh ơi, anh có biết không

Vì anh em buồn biết mấy

Tình yêu khắt khe thế đấy

Anh ơi anh đừng khen em   

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=328216

Bài hay cóp về
dactran | 08 Sep, 2011, 05:25 | Chung | (28 Reads)

Gửi thư   alt Bản in

Không phải một cuốn sách mà là một đời sống

(Đọc “Dặm ngàn hương cốm Mẹ” của Nguyễn Tham Thiện Kế)

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều - 06-09-2011 02:30:28 PM

ValtanVN.Net - Cuốn sách không còn là một cuốn sách nữa. Nó là một đời sống. Sau khi đọc đến dòng cuối cùng của cuốn sách tôi đã nhận ra như vậy. Từng dòng, từng dòng chữ đã dần dần đưa tôi rời xa cái đời sống gấp gáp, thực dụng, qua loa và nhiều vô cảm để bước vào một đời sống của những vẻ đẹp tinh khiết và ngập tràn tinh thần nghi lễ. Đó không phải là một đời sống xa lạ, một đời sống của trí tưởng tượng mà là một đời sống chính tôi đã từng được sống trong nó và giờ đây được sống lại với toàn bộ tinh thần chứa đựng trong nó. Nhưng bây giờ, tinh thần của đời sống ấy đã và đang rời bỏ chúng ta. Và với những trang viết của mình, Nguyễn Tham Thiện Kế thực sự đã phục dựng tinh thần của đời sống ấy, đã làm nó sống lại trong tôi như trong một giấc mơ tôi được trở về một vùng đất với bao điều đẹp đẽ đã biến mất trên thế gian này. Và hơn cả một giấc mơ  là một hiện thực.

 

alt

 

Hầu như tất cả những gì Nguyễn Tham Thiện Kế viết vẫn còn đây. Vẫn còn đây những hoa lý, những đồi cọ, nương sắn, còn đây những cốm, những bánh khúc, còn đây những đào, những loa kèn, những cá Anh vũ, còn đây những ngôi nhà cổ, còn đây những Nội, Ngoại, những U Già, những bà giáo Chi, còn đây những Mẹ, những Dì và còn đây bao con người vô danh. Thế nhưng hiện thực của cái đời sống gấp gáp, thực dụng, qua loa và nhiều vô cảm đã đang làm cho lý không đa tình mơ hồ trong nắng hạ như xưa, cọ không còn xanh mộng du trên những vùng đồi trung du như xưa, cốm đã mờ đi ánh sáng xanh trong một ngày thu, đào bớt thắm trong nắng xuân rạo rực, những Anh vũ không còn ngời ngời trong nước biếc, rau khúc không còn dâng hương bất tận dọc chân trời, những ngôi nhà xưa không còn vọng tiếng ai da diết gọi về, những Nội, Ngoại, những U Già, những bà giáo Chi loãng đi trong hồn người hơi thở đầm ấm như lửa bếp chiều đông,  thưa dần những bà mẹ đi trong hoàng hôn, vừa đi vừa tỏa hương thơm của ngũ cốc và bao con người vô danh nhưng bóng không còn mãi in trên bức tường ký ức của con người như thuở trước. Tất cả là bởi con người đã đổi thay. Và khi con người đổi thay  giọng nói của mình, đổi thay cách nhìn của mình và đổi thay cảm xúc của mình thì mọi điều bỗng thay đổi.

Có thể có những người đọc cuốn sách này không tìm thấy những gì tôi tìm thấy. Tôi là người hoài cổ chăng? Hay có phải tôi là người quá nuối tiếc những gì như thế? Có phải những gì trong thế giới của Nguyễn Tham Thiện Kế không còn ý nghĩa trong cuộc sống bây giờ nữa? Hay có phải cái thế giới ấy chỉ là một giấc mơ cho những kẻ lãng mạn không hợp thời như Nguyễn Tham Thiện Kế, như tôi và như bao người khác nữa?  Những câu hỏi như vậy đang vang lên trong tôi từ khi tôi bắt đầu nhìn thấy sự ra đi của những vẻ đẹp kia. Và những câu hỏi đó vang lên nhiều hơn, gấp gáp hơn và buồn bã hơn khi đọc cuốn sách của Nguyễn Tham Thiện Kế. Cho đến lúc này, chính cái thời khắc mà những chữ tôi viết đang hiện dần lên, thì tôi nhận thấy: tôi không phải là kẻ hoài cổ, không phải là kẻ quá nuối tiếc, không phải là một kẻ lãng mạn không hợp thời mà là tôi hiểu rằng: những điều Nguyễn Tham Thiện Kế viết là những điều trong những điều làm nên cuộc sống có ý nghĩa và lộng lẫy của xứ sở này.

 

alt

Nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế

 

Nhưng có lẽ cách nói “những điều Nguyễn Tham Thiện Kế viết…”  đã không phù hợp khi nói về những câu chuyện của anh. Tôi sẽ cảm thấy mệt mỏi và có nguy cơ rơi vào một thứ lý lẽ vô bổ khi viết với một mớ thuật ngữ để phân tích hay luận giải. Bởi tôi đang trở về sống trong cái đời sống của những câu chuyện trong cuốn sách. Tôi đang được sống trong đời sống mà tác giả cuốn sách đã hồi sinh nó. Đấy thực sự là nhu cầu lớn nhất của một người đọc. Tôi suy ngẫm và thấy rằng: đầu tiên Nguyễn Tham Thiện Kế muốn viết những tùy bút hay bút ký gì đó (tôi thực sự thấy chẳng cần thiết phải xác định thể loại ở đây). Anh chuẩn bị các thao tác của một nhà văn. Nhưng khi ngồi xuống viết, cái hành động viết của anh đương nhiên là được thực hiện nhưng chỉ là một thói quen cơ học từ chữ đầu tiên cho đến chữ cuối cùng. Lúc đó, câu chuyện anh muốn kể và thậm chí muốn “làm văn” đã cuốn anh đi và làm anh quên mất những thao tác kỹ thuật. Lúc đó, cuộc sống trong những câu chuyện kia đã phủ ngập anh. Nó giống như cỗ máy thời gian đưa anh trở lại những phần sống trước đó. Nó làm cho anh không còn bất cứ ký ức nào về cuộc sống hiện tại anh đang sống với xe hơi, với những quán ăn phong cách ẩm thực Châu Âu ngập tràn các đô thị, với những siêu sản phẩm của nền công nghệ hậu hiện đại… Anh như chưa từng được sống cái đời sống hiện tại mà anh đang sống hoặc là nó chưa từng đến với anh. Và thế, anh trở thành một phần không thể tách rời của đời sống những năm tháng ấy – những năm tháng mà con người sống trong một đời sống của run rẩy, của lãng mạn, của linh thiêng, của những giấc mơ huyền diệu… Đó là thời đại mà người ta thi vị và thiêng liêng hóa cả một món ăn, một cánh hoa, một cái cây, một hoàng hôn, một tiếng rao đêm, một ngọn đồi, một ngõ phố, một gương mặt người vô danh… Đấy chính là một cuộc sống với sự sâu thẳm của tâm hồn. Đấy là một đời sống mà con người được sống một cách có ý nghĩa nhất và trong sáng nhất.

Chính vì anh đang sống với toàn bộ tinh thần và thể xác trong đời sống ấy mà không có bất cứ sự can thiệp thô bạo và thực dụng nào của cái đời sống đương đại lọt vào. Và cũng chính vì lẽ đó mà tất cả những gì nhỏ bé nhất, giản dị nhất và cả mơ hồ nhất cũng hiện nên tươi ròng và xác thực như máu của chính tôi khi tôi rạch một vết dao vào da thịt mình và nó tứa ra. Nó chính là đời sống chứ không phải những hoài niệm về đời sống ấy. Chi tiết trong những câu chuyện quả là làm tôi như ngạt thở. Những chi tiết như thế đã xóa sạch dấu vết của phép tu từ học. Tôi là người cũng thường viết về những gì như Nguyễn Tham Thiện Kế viết. Nhưng tôi phải thú tực rằng: khi đọc những trang sách hay nói cách khác là khi bước vào cái đời sống mà Nguyễn Tham Thiện Kế đã hồi sinh nó bằng những trang viết của anh tôi mới nhận ra mình vẫn còn là kẻ nhiều hoài niệm về đời sống đó và vẫn còn dùng kỹ xảo của nghề viết. Chắc chắn sự khởi sinh những câu chuyện trong cuốn sách của  Nguyễn Tham Thiện Kế  là từ những hoài niệm. Và việc đặt tên cho mỗi câu chuyện cũng như những dòng đầu tiên đều được anh thực thi bởi phép tu từ học. Nhưng rồi tinh thần và vẻ đẹp của đời sống đó mang một quyền lực quá lớn đến mức nó biến những hoài niệm của anh về đời sống đó thành một đời sống hiện tại chứ không phải một quá khứ được ký ức hóa.

 

              Hà Đông, mồng 1 tháng Tám, Tân MãO

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=321798

tin buồn
dactran | 04 Sep, 2011, 06:37 | Chung | (53 Reads)
Đăng ngày: Cách đây 16 phút

TIN BUỒN

 

Nhà văn Nguyễn Anh Đào sinh ngày 7 tháng 2 năm 1936 tại xã Tứ Yên , huyện Sông Lô , tỉnh Vĩnh Phúc , trú quán phường Vân cơ , thành phố Việt trì , tỉnh Phú thọ .

Hội viên Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật tỉnh Phú thọ

Hội viên hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt nam

 Sau một thời gian bị bệnh hiểm nghèo , đã từ trần lúc 23 giờ 15 phút ngày 2 tháng 9 năm 2011

( Ngày 5 tháng 8 năm Tân mão) Hưởng thọ 76 tuổi. Ông là một nhà giáo , khi nghỉ hưu mới viết văn nhưng đã có một gia tài văn chương đầy đặn , chỉ trong 10 năm ( 2000-2011 ) ông đã cho ra đời 7 tác phẩm Văn học gồm 4 tiểu thuyết và 3 tập truyện ngắn và ký : Câu chuyện bên hồ , tiểu thuyết , NXB Hội nhà văn-2000 ,Bóng thời gian , tiểu thuyết NXBHNV – 2002 , Chuyện làng Yên lập , tập truyện ký – 2003 , Sợi dây chuyền định mệnh , tiểu thuyết – 2007 , Tình núi , tập truyện – 2006 , Bóng núi , tiểu thuyết – 2007 , Những khúc quan hoài , tập truyện ký – 2011 .

 Ông đã được nhận nhiều giải thưởng văn chương :

-Giải nhì ( Không có giải nhất ) truyện ngắn “ Nàng Hinh và những khúc quan hoài” – Tạp chí Sông Hương ( Huế )

-Giải thưởng Phan xi păng lần thứ 1 , tỉnh Lào cai năm 2002

-Giải B tập truyện ngắn “ Chuyện sau cơn lũ”, năm 2003

-Giải B giải thưởng 5 năm tỉnh Phú thọ , tiểu thuyết “ Câu chuyện bên hồ” , năm 2005

-Giải KK Ủy ban TQ các hội VHNT Việt nam , tập truyện “ Tình núi” , năm2006

-Giải A giải thưởng 5 năm tỉnh Phú thọ , tiểu thuyết “ Bóng núi” , năm 2010

            Là một nhà giáo nhưng rất say mê văn chương , Nguyễn Anh Đào có một vốn sống và vốn kiến thức phong phú nên đã viết được nhiều tác phẩm có giá trị góp phần vào sự nghiệp Văn học nghệ thuật của tính Phú thọ và đất nước . Ông là một người sống nhân hậu có tình cảm chân thành , sâu sắc với mọi người , để lại những tình cảm tốt đẹp trong lòng bè bạn văn chương , những ngày cuối đời ông đã viết nhiều bài trên Blogs “ Người ven sông” của ông về nhừng tác giả Văn ,Thơ mà ông quen biết với một tình cảm yêu thương và trân trọng , ông cũng dành tâm sức cho tác phẩm cuối cùng của mình “ Những khúc quan hoài” để lại cho mọi người một nỗi tiếc thương vô hạn. Là một người em được ông quý mến dành cho nhiều tình cảm sâu nặng , tôi thật sự xúc động khi ông ra đi . Xin kính cẩn nghiêng mình trước vong linh nhà văn Nguyễn Anh Đào kính mến .

anhĐào

ẢNH CHỤP TẠI GIA ĐÌNH KHI TÔI ĐẾN THĂM NHÀ VĂN NĂM 2010

Dưới đây là hình ảnh nhà văn Nguyễn Anh Đào  dự Đại hội Liên hiệp VHNT tỉnh Phú thọ , ngày 25 tháng 11 năm 2010 . Từ trái qua phải : Cầm Sơn , Nguyễn Anh Đào , Trần như Đắc , Giang Châu .

-

alt

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=320992

Có một cuộc chia ly
dactran | 29 Jul, 2011, 05:37 | Tản văn | (80 Reads)

MỘT CUỘC CHIA LY ĐẶC BIỆT

(Cảm nhận “Có một cuộc chia ly” trên blog Hoa Nhã my)

                                                                                         THANH BÌNH
                                                                                        
                   CÓ MỘT CUỘC CHIA LY
Chẳng ai ngờ có cuộc chia ly ấy đâu
Cuộc chia ly chỉ có hai người lặng lẽ
Không phải “kẻ ở, người đi” mà cùng bay về hai phía
Kẻ bắc, người nam biền biệt phương trời
Đã dặn rồi đừng khóc em ơi!
Sao trong mắt nhau cứ đỏ hoe ngấn lệ?
Sao mỗi bước đi, bước dừng đau đớn thế?
Xé toạc trời tiếng gầm rú máy bay
Anh tiễn em rồi ai sẽ tiễn anh đây?
Ơi cái chấm nhỏ nhoi hun hút trời phố núi!
Ngơ ngác giữa sân ga lê bước chân buồn tủi
Một mình anh gồng gánh cuộc chia ly

                   
                   Lát nữa thôi anh cũng phải bay đi
Sợi nhớ thương anh giữ đầu phương bắc
Em phương nam nối hai đầu dằng dặc
Tiếng tơ lòng thánh thót mãi vang ngân
Có một cuộc chia ly đẹp tựa vầng trăng
Thắm như hoa nhã my, nặng lời thề như đá
Có một cuộc chia ly chẳng bao giờ xa mới lạ
Họ mãi trong nhau một cõi đi về…
          Tôi đã đọc bài thơ này trên blog Hoa Nhã My và rơi nước mắt dần theo từng câu thơ, khổ thơ của tác giả. Giọt nước mắt của một người cảm thông, chia sẻ với hai nhân vật trong cuộc chia ly của bài thơ. Cách viết không mới nhưng những chi tiết, ngôn từ, khung cảnh trong bài thơ được tác giả chọn rất đắt và hơn cả là cái tình của người viết khiến bài thơ ám ảnh một cách lỳ lạ.
          Mở đầu bài thơ là khổ thơ nói về bối cảnh cuộc chia ly. Đây là cuộc chia ly rất đặc biệt, không thể ai tin được rằng “cuộc chia ly ấy chỉ có hai người lặng lẽ” mà hai người này “không phải kẻ ở, người đi” như bao cuộc chia ly khác. Vậy thì họ ra sao? Tác giả hé lộ cái đặc biệt thứ hai của cuộc chia ly này, đó là họ “cùng bay về hai phía”, rồi cái đặc biệt thứ ba là “kẻ bắc người nam biền biệt phương trời”. Tác giả dùng động từ “bay” chứ không phải là “đi”. Thông điệp này cho biết hai người đó chia tay nhau trên sân bay. Khép lại khổ thơ là viễn cảnh sẽ xảy ra với họ: “Kẻ bắc, người nam biền biệt phương trời”. Nghe mới xa xót, mới dằng dặc làm sao. Khổ thơ có bốn câu mà tác giả đã đưa vào tới ba thành ngữ (“kẻ ở người đi”, “kẻ bắc người nam”, “biền biệt phương trời”) khiến cho bài thơ gần gũi và truyền thống. Tôi chợt nhớ đến bài dân ca “Bèo dạt mây trôi” của các cụ ngày xưa với “chốn xa xôi”, với “chim sa, cá lặn”, với “cành đa trước ngõ” với “gió la đà”… và giai điệu bài hát cứ ngân lên trong đầu tôi một nỗi buồn da diết.
          Tiếp theo, tác giả đưa ta tới cận cảnh cuộc chia ly.
          “Đã dặn rồi đừng khóc em ơi!
          Sao trong mắt nhau cứ đỏ hoe, ngấn lệ?
          Sao mỗi bước đi, bước dừng đau đớn thế?”
          Tất nhiên rồi, ai mà cầm lòng được khi phải chia xa nhau một cách đặc biệt đến thế. Tác giả dặn người yêu đừng khóc nhưng chính mắt tác giả cũng đang “đỏ hoe ngấn lệ” và cả hai đều dùng dằng, níu kéo thời gian, mỗi bước đi lại bước dừng. Bịn rịn lắm, lưu luyến lắm, còn nhiều điều dặn dò nhau lắm nhưng họ không nói nữa, chỉ nhìn vào mắt nhau và khóc. Ấy vậy mà, kết thúc khổ thứ hai của bài thơ, giữa khung cảnh lặng lẽ, yên bình đầy nước mắt ấy, một câu thơ như giáng vào đầu họ: “Xé toạc trời tiếng gầm rú máy bay”.“Xé toạc trời”, “gầm rú” những động từ rất mạnh đã đột ngột cắt ngang khung cảnh yên bình ấy, báo hiệu giây phút họ biệt ly đã tới.
          “Anh tiễn em rồi, ai sẽ tiễn anh đây?
          Ơi cái chấm nhỏ nhoi hun hút trời phố núi!
          Ngơ ngác sân ga, lê bước chân buồn tủi
          Một mình anh gồng gánh cuộc chia ly”
          Đọc đến đây ta lại thấy cái đặc biệt của cuộc chia ly này, đó là tác giả là người bay sau. Một câu hỏi và tiếp đó là một câu cảm thán. Câu hỏi mở đầu khổ thơ đọc lên nghe tội quá. Cũng là chia ly nhưng vừa mới ban nãy thôi còn có người sẻ chia, còn có người đưa tiễn nhưng bây giờ chỉ còn một mình tác giả. Một mình anh ngửa cổ nhìn trời theo hút mãi chiếc máy bay đã mang người yêu của mình đang thành một chấm nhỏ cuối trời, để rồi anh thốt lên tiếng gọi vớt vát trong vô vọng: “Ơi cái chấm nhỏ nhoi hun hút trời phố núi!”. Sau đó thì “ngơ ngác sân ga, lê bước chân buồn tủi/ một mình anh gồng gánh cuộc chia ly”. Câu cuối khổ thơ rất đắt, tác giả trở thành vừa là người đưa, vừa là người tiễn, đưa tiễn chính mình, “gồng gánh cuộc chia ly” (xin nhớ cho là tác giả dùng động từ "gồng gánh"), gồng gánh nghe rất lỉnh kỉnh, gánh cả đầu đi và đầu ở, đầu tiễn và đầu đưa.  Tôi thích nhất khổ thơ này. Đây là hồn cốt của cuộc chia ly này. Và trong mắt tôi hình dung được cảnh tác giả đang ngơ ngác giữa sân ga, đang khóc vì cô đơn, về nỗi khổ đầu tiên của cuộc chia ly mà mình phải gánh chịu. Và tôi cũng hình dung được người yêu của anh lúc này ngồi trên máy bay rồi cũng đang oà khóc và nhìn mãi xuống sân bay tìm bóng người yêu mình khi còn có thể nhìn được.
          “Lát nữa thôi, anh sẽ phải bay thôi
          Sợi nhớ thương anh giữ đầu phương bắc
          Em phương nam nối hai đầu dằng dặc
          Tiếng tơ lòng thánh thót mãi vang ngân”
          Cái hay của khổ thơ này là tác giả ví mình và người yêu cùng cầm hai đầu của sợi dây thương nhớ. “Anh giữ đầu phương bắc”em phương nam”. Tôi có cảm giác sợi dây “dằng dặc” này cứ dài mãi căng như sợi dây đàn để “tiếng tơ lòng thánh thót mãi vang ngân”. Dây đàn càng căng thì tiếng của nó càng thanh, càng ngân. Nỗi nhớ cũng vậy, càng xa, càng dài thì càng nhớ.
          Kết thúc bài thơ là khổ thơ thể hiện sự cao tay của tác giả. Chia ly mà lại không chia ly.
          “Có một cuộc chia ly đẹp tựa vầng trăng
          Thắm như hoa nhã my, nặng lời thề như đá
          Có một cuộc chia ly không bao giờ xa mới lạ
          Họ mãi trong nhau một cõi đi về…”
          Tài! Rất tài! Tác giả cho ta thêm một điều đặc biệt nữa của cuộc chia ly này: “đẹp tựa vầng trăng”, “thắm như hoa nhã my”, “nặng lời thề như đá”, “không bao giờ xa”. Hoa nhã my? Có lẽ loài hoa đặc biệt kỷ niệm của hai người? Tôi chưa biết loài hoa này, chắc nó phải đẹp lắm, sâu sắc lắm với họ? Gì thì gì đó cũng là biểu tượng của tình yêu của họ.
Câu kết của bài thơ, tác giả hoá thân thành khách thể của cuộc chia ly để khẳng định “Họ mãi trong nhau một cõi đi về”. Rất tự tin, rất mở. Thế là toàn bộ cuộc chia ly từ nãy đến giờ hoá ra không phải là chia ly nữa. Phần xác họ có thể “kẻ bắc người nam biền biệt phương trời” nhưng phần hồn của họ lại “mãi trong nhau một cõi đi về”.  Một cuộc chia ly có hậu, tưởng sướt mướt, đớn đau nhưng lại rất lạc quan, tin tưởng. Tình yêu là thế. Không bao giờ cách xa. “Càng xa nhau ta càng thấy yêu nhau” đúng như lời một bài hát đã hát vậy.
          Đọc đi rồi đọc lại bài thơ, tôi cảm thấy lâng lâng. Nhắm mắt lại thấy toàn cảnh cuộc chia ly của hai người. Mở mắt ra thấy những con chữ như động cựa trên trang giấy. Ám ảnh lắm. Sâu sắc lắm. Ước gì tôi cũng có được cuộc chia ly như họ để được buồn đau vì nhau, xa xót vì nhau, một nỗi buồn đau xa xót của tình yêu và hạnh phúc. Cảm ơn tác giả đã cho tôi thấy yêu đời, yêu cuộc sống này hơn sau cuộc chia ly đặc biệt của anh.
                                                                                      T.B

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=313515

Nhà thơ Xuân Thu
dactran | 23 Jul, 2011, 06:12 | Tản văn | (63 Reads)


SỰ THĂNG HOA KỲ DIỆU CỦA THI SĨ XUÂN THU

 

            Bây giờ thì tôi có thể khẳng định được rằng , chuyến đi vào Tây nguyên vừa qua của nhà thơ Xuân Thu đã cho anh một sự thăng hoa thực sự .

            Không thăng hoa sao chỉ một thời gian ngắn anh cho ra đời một loạt bài thơ tình đặc sắc , ám ảnh , xao xuyến , lãng mạn đến vô cùng.

            Không thăng hoa sao cũng thời gian ngắn ngủi đó anh còn có một bài bút ký mụ mị đến say lòng người , làm cho cả những người ngoài cuộc lo lắng đến thót tim.

            Không thăng hoa sao anh còn cho chúng ta một truyện huyền thoại về một loài hoa . Một truyện ngắn thôi mà khi ngắt làm ba phần đăng trên Blogs  đã làm cho mọi người hồi hộp đón chờ .

            Thăng hoa đến mức anh không cần và không thể kìm nén , giữ gìn những điều “Bí mật” cho riêng mình mà công khai tung ra giữa thanh thiên bạch nhật để cho mọi người đều biết , để cùng chia sẻ với anh .

            Đó là sự thăng hoa của một tâm hồn , sự thăng hoa của một tình yêu đích thực của một người Văn nghệ sĩ .

            Tình yêu không bao giờ có tội .

            Tình yêu cũng không có luật lệ nào cả .

            Nhà thơ Hồng Thanh Quang khi yêu người con gái hơn tuổi mình là nghệ sĩ Lê Dung đã có một câu thơ rất hay : “ Khi đã yêu nhau , luật trời ta cũng sửa …”.

            Và bây giờ Xuân Thu cũng vậy .

            Qua những tác phẩm “ Xuất chiêu” của anh sau chuyến đi này  , ta thấy hiện ra một tình yêu rất đẹp , đó là một tình yêu cao thượng và thánh thiện . Cho dù đó là một tình yêu “ Sét đánh” thì đó cũng là một tình yêu đích thực , chân thành .

            Trong đời Văn nghệ sĩ có được mấy lần thăng hoa ? Hiếm lắm ! Lần này Xuân Thu quả là được “Trời cho” một lần thăng hoa tuyệt diệu . Đọc những bài thơ của anh, ai cũng thấy một tình yêu lung linh đẹp đẽ với đủ các cung bậc , đó là một tình yêu say đắm đến si mê :

            Xòe bàn tay nâng bông Nhã Mi

            Úp mặt vào hoa tôi dưng dưng chực khóc

            Là người được chứng kiến cuộc tình ( Cùng trong đoàn đi Pleiku với XT ) tôi thấy đó là một tình yêu chân thật , những ngày đó ,anh đúng là một “ Ê xê nhin” của Việt nam ,chất thi sĩ thể hiện hơn bao giờ hết khì tìm thấy cái đẹp :       

            Lặn lội kiếm tìm suốt một đời khó nhọc

            Gặp hoa rồi mà lòng vẫn chưa tin

            Tôi đã đọc nhiều bài thơ tình , nhiều câu chuyện tình , nhưng lần này tôi mới tận mắt thấy một tình yêu dào dạt đến vô cùng , nhà thơ đã phải thú nhận : “ Con ong đói khát khao dòng mật ngọt” để rồi “ Bỏ lại đằng sau những cay nồng đắng đót” và sẵn sàng là :

            “Tím cả đời tôi cho đến ngày cát bụi

            Hóa kiếp mỉnh cho hoa sinh sôi.”

            Sức mạnh của tình yêu ghê gớm quá và đúng như lời thơ  “ Hoa đã sinh sôi” , ngay sau đó HUYỀN THOẠI HOA NHÃ MI  đã ra đời .

            Đó là một huyền thoại đẹp , một huyền thoại lung linh , kỳ ảo , một khúc bi tráng về một tình yêu của một đôi trai tài gái sắc . Huyền thoại được xây dựng trên một cảnh sắc thiên nhiên có thực trên cao nguyên Gia lai , đó là thác nước Phú cường hùng vĩ ,những đóa hoa rừng mang tên Nhã mi xinh đẹp … Trong cái đêm trăng hiếm hoi đẹp đến mê  hồn ấy , chàng nghệ sĩ Xuân Thu đã thao thức không ngủ được  , anh thấy “ Ánh trăng như dát vàng , dát bạc xuống khắp rừng cao su , nhễ nhại trên những tán cây Kơnia …” tâm hồn anh như nưả tỉnh nửa mơ, như thấy có một “ Cô gái đẹp như tiên sa , bước ra từ rừng cao su cầm một nhánh hoa Nhã mi chạy đến…”.

            Thế rồi trí tưởng tượng của nhà thơ bay bổng , anh đã nghĩ ra một huyền thoại – Huyền thoại Hoa Nhã mi .

            Trong bài viết anh có nói huyền thoại đó là do anh được nghe Già làng kể lại , còn tôi thì cho rằng chính anh mới là người nghĩ ra huyền thoại đó.

            Vì là huyền thoại nên hư hư thực thực . Chàng Hoàng tử thông minh và dũng cảm , nàng con gái xinh đẹp mê hồn , tình yêu của họ vừa đắm say vừa đau khổ , tình sử của họ được dân gian ghi nhớ mãi ,nó lung linh mờ ảo như sương khói . Chỉ có hiện thực là con suối La pét vẫn còn chảy mãi , dòng thác Phú cường vẫn gào thét đêm ngày và những bông hoa Nhã mi vẫn còn giữa trần gian.

            Huyền thoại Hoa Nhã mi là sự biến ảo của Xuân Thu trong một mối tình thực .

            Chính trên mảnh đất Tây nguyên Pleiku như mơ mà thực này ,Xuân Thu đã tìm thấy bông hoa Nhã mi xinh đẹp mà anh đã “ Lặn lội kiếm tìm suốt một đời khó nhọc” . Cái gì của Nhã mi đã làm anh say mê đến tuyệt đỉnh vậy ? Chắc rằng không phải chỉ có vẻ đẹp bên ngoài , không phải chỉ vì “ Cánh hoa lạc nhuộm tím chiều phố núi” mà còn vì vẻ đẹp bên trong của Nhã mi nữa . Chỉ có sự đồng điệu của hai tâm hồn Thi sĩ , sự hấp dẫn khác lạ từ hai miền đất Văn hóa đã đưa họ đến với nhau để rồi dù có phải “ Đi về phía không nhau” họ vẫn “ Mãi trong nhau một cõi đi về” .

            Dù sao thì mối tình mới chỉ bắt đầu . Nhưng sự Thăng hoa của Xuân Thu vì được tình yêu chắp cánh thì đã rõ . Tin rằng : “ Đó chính là nguồn cảm hứng vô tận để chắp cánh cho những tác phẩm văn thơ của tôi bay lên” như lời Xuân Thu đã viết trong bài ký “ Pleiku – Thực hay Mơ “

 

                                                                                                20-7-2011

                                                                                                Trần như Đắc

 

ĐI VỀ PHÍA KHÔNG NHAU

Có ghế đá, con khỉ bị nhốt trong chuồng nhìn thấy

Một tối, hai tối, ba tối…

Trong ánh đèn sao trăng nhập nhoạng

Hai người không nhìn mắt nhau

Thủ thỉ điều gì rất ngọt

Họ lắng trong nhau

Làm sao mà nghe được

 

Có cây kơnia góc đường nhìn thấy

Nơi ngã ba, hai người chia tay

Một tối

Chân khấp khểnh

Họ gặp khi nào

Kơnia ngủ quên không biết

Hai tối

Lại bye bye

Tay dư dài thừa mứa

Không kéo được nhau

Ba tối

Nghèn nghẹn không nói bất cứ câu nào

 

Có vòm mây bạc trên kia kể lại

Hai sinh vật bé xíu di chuyển lên bloon

Ghế đá, khỉ, kơnia làm sao thấy được

Họ bay về phía ngược nhau

Tít mù.

                                     

                                           Thanh Nhã

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=312270

Điều kỳ diệu Pleiku
dactran | 05 Jul, 2011, 06:33 | Bút ký | (64 Reads)

 ĐIỀU KỲ DIỆU  PLEI KU

 

          Tháng 6 năm nay, văn nghệ sĩ Phú thọ ra quân thật ngoạn mục và hoành tráng , đọc  bài của Câm Sơn viết về trại viết Vũng Tàu , bài của Vũ Kim Liên viết về giao lưu ở Hải dương và bài của Xuân Thu viết về chuyến đi Pleiku, mới thấy văn nghệ sĩ Phú thọ đi đến đâu là tưng bừng đến đấy ,ở nơi nào cũng đầy vui vẻ , lưu luyến , nhớ thương…

          Tôi ở trong đoàn đi Pleiku ,cùng với các anh Nguyễn Đình Phúc , Nguyễn Thanh Bình và Đỗ Xuân Thu .Cứ tưởng đoàn này sẽ buồn tẻ vì cứ bị ám ảnh với câu thơ của cụ Bút Tre “ Anh đi công tác Pờ lây…”, mà Pleiku xa thật , những 1200 cây số ,ngồi ô tô dòng dã suốt 24 tiếng đồng hồ mới tới nơi ,rồi Pleiku là miền rừng núi cao nguyên ,rồi là đi học ( chứ không phải đi giao lưu ở những địa chỉ hấp dẫn..) . Như\ng thật không ngờ điều kỳ diệu đã xảy ra . Hóa ra Pleiku là một nơi đẹp mê hồn,có đủ “ Mây gió trăng hoa…”và cũng đủ ám ảnh , mê man , sầu tư , nhung nhớ…chỉ cần tiết lộ 1 điểm này để thấy sự cuốn hút của xứ sở Cao nguyên này :

Ngày 22-6 vừa vào đến nơi Xuân Thu đã có ngay bài thơ “ Phải lòng”,ngày 25 có “ Đâu rồi đôi mắt Pleiku” ,Ngày 27 có bài thơ Da diết “ HOA NHÃ MI” , chưa thôi , 29/6 có “ Đền em” 1/7 chuẩn bị chia tay có “ Đêm Gia lai” để cuối cùng vừa về đến Đoan hùng đã có ngay bài bút ký thật mụ mị “PLEIKU  THỰC HAY MƠ”.Mà đấy là mới chỉ một Xuân Thu thôi đấy nhé . Nguyễn thanh Bình , Nguyễn đình Phúc cũng thăng hoa , cũng lãng mạn không kém chỉ có điều các anh ấy chưa “Ký” ra thôi,vì cùng phòng với Nguyễn đình Phúc nên tôi cũng “khoe “ hộ anh thế này : Được đăng ngay một bài thơ trên báo Gia lai cuối tuần “ Ngẫu hứng mưa Pleiku”  ,đặc biệt được nhạc sĩ,Thạc sĩ Lê Xuân Hoan ,chủ tịch hội VHNT Gia Lai phổ nhạc bài thơ “ TA CHỜ EM” được ca sĩ nối tiếng của đoàn ca múa nhạc Gia lai Lê Hùng hát ( Lê xuân Hoan phối khí ) bài thơ đã hay lại được một nhạc sĩ tài ba phổ nhạc nên nghe rất thiết tha sâu lắng . Tôi cũng trích ra đây một khổ thơ trong bài “ Ngẫu hứng mưa Pleiku “ của Nguyễn đình Phúc để mọi người thấy Plei ku hư ảo như thế nào :

                   …Tôi đợi gì cuối phố núi lặng im

                   Cứ chập chờn những cơn mưa bất chợt

                   Mưa đã đẫm hồn tôi nhiệt huyết

                   Chiếc lá nào ngả bóng xuống chiều nay

 

                   Mưa cứ mưa nhiều thế Pleiku

                   Em lại hẹn chờ khi nào mưa ngớt

                   Gõ vào sợi mưa để đầu kia em hót

                   Ước gì tôi là con chim sẻ kia.

 

 

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=308965

Biển Đông cuộn sóng
dactran | 09 Jun, 2011, 06:33 | Bài của bạn bè | (41 Reads)
Đăng ngày: 05:33 04-06-2011
Thư mục: Tổng hợp
Đăng ngày: 19:00 01-06-2011
Thư mục: Tổng hợp

Ngọn sóng biển Đông trong lòng người Việt!

alt 
Ngọn sóng biển Đông trong lòng người Việt!

TT - Sáng qua 28-5, câu chuyện nóng bỏng bên ly cà phê buổi sáng ở nhiều nơi trên đất nước này với nhiều người không phải là trận chung kết Cúp Champions League “siêu kinh điển” giữa hai đội Barca-Manchester United diễn ra rạng sáng nay dù bóng đá có là niềm đam mê kỳ diệu với người Việt và gần như ai cũng là tín đồ của “tôn giáo bóng đá”. 


Không gì nóng bằng những thông tin trên hàng trăm trang báo mạng và báo in về sự kiện ba chiếc tàu hải giám của Trung Quốc đã táo tợn xâm nhập lãnh hải, vi phạm chủ quyền đất nước, phá hoại tài sản của con tàu thăm dò địa chấn Bình Minh 02 của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam (PVN) đang làm nhiệm vụ trên vùng biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Câu chuyện mỗi ngày trên biển Đông vẫn luôn nóng bỏng ngay cả giữa những ngày thời tiết biển đang bão bùng mưa rét.

Từ trưa 26-5, khi sự kiện này chỉ vừa được biết đến trên các trang mạng xã hội, nhiều bạn trẻ đã đưa thông tin này lên, cho đến cuộc họp báo sáng 27-5 của PVN tại Hà Nội thì tất cả đã rõ ràng: không còn nghi ngờ gì nữa về những hành động của những con tàu Trung Quốc đã vi phạm trắng trợn chủ quyền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Không còn là những hành động bắt bớ ngư dân đòi tiền chuộc hay lén lút xâm nhập ngư trường Việt Nam khai thác đánh bắt thủy hải sản. Lần này những con tàu của Trung Quốc đã bị gọi đích danh chức năng và số hiệu. Và hành động xâm nhập, cản trở, phá hoại kia cũng được gọi chính xác là “táo tợn”, “ngang ngược”. Chúng ta cũng đòi hỏi Trung Quốc phải đền bù các thiệt hại mà họ đã gây ra đối với tàu Bình Minh 02. 

Nhưng những phản ứng của nhân dân Việt Nam, những người đang sống trong nước cũng như cộng đồng người Việt ở nước ngoài về hành động ngang ngược của những con tàu Trung Quốc trên vùng biển Việt Nam những ngày qua đang làm bùng cháy ngọn lửa yêu nước trong trái tim mỗi người, cho thấy một chân lý về tinh thần của người Việt Nam.

Chủ quyền Tổ quốc, trong tâm thức người Việt, luôn luôn lớn hơn sinh mạng chính mình. Và chính vì thế, cho dù biển Đông thân yêu của chúng ta hôm nay đang đối đầu với bao âm mưu thôn tính, rình rập nhưng chắc chắn không một ai có thể khuất phục được tinh thần yêu nước của dân tộc Việt Nam. 

LÊ ĐỨC DỤC
http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Thoi-su-suy-nghi/440082/Ngon-song-bien-Dong-trong-long-nguoi-Viet.html
 
 
Biển Đông đang cuộn sóng 
Sóng Biển Đông đang gầm gào thét gọi, lay động những tâm hồn Việt Nam chẳng thể nào ngủ yên vì những hành vi xâm phạm chủ quyền đất nước. Đây không là hành vi của bọn cướp biển Xômali của một quốc gia đang chao đảo, mà là hành vi của các lực lượng cưỡi trên những con tàu “hải giám” được trang bị đến tận răng và được hỗ trợ bởi nào là máy bay tàng hình, nào là hàng không mẫu hạm hòa tấu với sự ngụy biện bằng những lời đường mật mỹ miều cũ kỹ cố tân trang song càng tân trang lại càng tương phản.alt

Hải quân Việt Nam đang từng bước xây dựng chính quy,
hiện đại, bảo vệ vững chắc vùng biển của Tổ quốc 
Ảnh: HOÀNG LONGaltalt 

Bộ đội không quân và bộ đội tên lửa Việt Nam đang từng bước xây dựng chính quy và hiện đại

Ở cạnh một nước láng giềng với mong muốn “tối lửa tắt đèn có nhau”, chúng ta cứ ao ước được “bên ni biên giới là mình, bên kia biên giới cũng tình anh em”. Và trong trái tim nhân dân của hai nước Việt-Trung bao đời, những người dân hiền lành, lương thiện, luôn dành chỗ cho tình hữu nghị anh em từng cưu mang cứu giúp lẫn nhau trong cơn hoạn nạn. Không phải ngẫu nhiên mà căn cứ địa thần thánh của cách mạng và kháng chiến của ta trong thế kỷ XX được xây dựng kề sát biên giới Việt Trung, và những chiến sĩ cách mạng Việt Nam đã ghi tạc vào lòng sự đùm bọc của bà con người Hoa bên kia biên giới trong những ngày đen tối của xiềng xích thực dân, đế quốc, phát xít. Cũng chính nơi đây, sau 30 năm bôn ba bốn biển năm châu tìm đường cứu nước, Bác Hồ đã dừng lại tại cột mốc biên giới để xúc động cúi hôn nắm đất quê hương. 

Rồi đến hôm nay, đúng một trăm năm ngày Bác ra đi tìm đường, những cột mốc nằm suốt dải biên giới Việt - Trung đã được xác định và gia cố vững chắc để khẳng định trên thực địa tính tôn nghiêm của quyền lãnh thổ bất khả xâm phạm của một quốc gia. Thế nhưng cùng với việc thỏa thuận cột mốc biên giới trên bộ, thì “chiếc lưỡi bò” với toan tính lấn chiếm lại thè ra muốn liếm trọn Biển Đông để thỏa cơn khát năng lượng của một cường quốc đang công nghiệp hóa và hiện đại hóa bằng bất cứ giá nào. Việc làm này của Trung Quốc đi ngược lại với nguyện vọng của nhân dân Trung Quốc anh em vốn muốn sống hòa hiếu, muốn có quan hệ tốt đẹp với Việt Nam, cũng đi ngược lại với thiện chí của nhiều nhà lãnh đạo Trung Quốc từng có những hành động và ý nguyện thiết thực xây đắp mối quan hệ Việt – Trung thực sự tốt đẹp. 

Theo các số liệu do Bloomberg tổng hợp thì nguồn dự trữ dầu của Trung Quốc đã sụt giảm gần 40% kể từ năm 2001. Để thỏa mãn nhu cầu về năng lượng thì Biển Đông với diện tích khoảng 3.500.000 km2, chứa đựng hơn 50 tỉ tấn dầu thô và hơn 20 nghìn tỉ mét khối khí (con số này gấp khoảng 25 lần trữ lượng dầu và 8 lần trữ lượng khí của Trung Quốc đã được ghi nhận) quả thật là “vịnh Ba tư thứ hai” theo cách nói của tờ Thời báo Hoàn cầu của Trung Quốc ra ngày 19-4-2011, là kho dự trữ lý tưởng mà cơn khát năng lượng của nước này nhằm vào. 

Cho nên, cùng với sự kiên quyết bảo vệ chủ quyền, cần phải làm cho nhân dân Trung Quốc biết về những hành động của một bộ phận lãnh đạo của họ đối với nước láng giềng Việt Nam. Trong khi cố gắng hàn gắn và củng cố mối quan hệ song phương với Trung Quốc thì đồng thời chúng ta phải làm cho cộng đồng quốc tế biết về thiện chí của ta và hành động của Trung Quốc ở Biển Đông để thế giới hiểu thêm về Trung Quốc mà họ vốn rất cảnh giác trong quan hệ. 

Điều quan trọng nhất là trong khi mở ra một mặt trận đối ngoại để tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ quốc tế, phải ra sức cải thiện hình ảnh Việt Nam trong lòng bè bạn. Để có được cái đó thì xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc theo đúng tư tưởng Hồ Chí Minh làm chỗ dựa vững chắc cho mọi giải pháp cần phải có nhằm bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc. Để làm được việc này cũng cần phê phán luận điệu đang được tung lên nhằm kích động chủ nghĩa dân tộc Đại Hán, đành phải dẫn ra đây để mỗi người Việt Nam có lòng tự trọng dân tộc tỏ tường hành động của Trung Quốc: “Một nhà lãnh đạo Trung Quốc đã nói một câu, trẻ con không nghe lời phải đét đít. Sau đó 10 vạn đại quân điều tới biên cương. Còn bây giờ thì sao? Trẻ con không những không nghe lời mà còn hoàn toàn không thèm để mắt tới người lớn. Ngang nhiên nói, tiến hành bầu cử quốc dân trên các đảo bãi xâm chiếm phi pháp tại Biển Đông, còn gào thét đó là công việc nội bộ của quốc gia, nói là, phải dùng vũ lực bảo vệ chủ quyền thần thánh không thể xâm phạm của đất nước mình. Điều đó chẳng phải là chống lại trời thì là cái gì. Liệu không thể đét đít chăng? Không cho bài học, từ nay trở đi liệu có ổn không? Không đánh bây giờ thì đợi đến khi nào?”. Đây là lời trích trong bài “Liệu khi Trần Tổng Tham mưu trưởng trở về [tức là Trần Bỉnh Quốc vừa có chuyến công du đến Mỹ] có là lúc dạy cho An Nam bài học?”. 

Việc ngang nhiên cho tàu “hải giám” [thực chất là tàu quân sự] xâm nhập vùng biển của ta để cắt cáp thăm dò dầu khí của tàu Bình Minh là một bước leo thang nhằm thực hiện ý đồ nói trên. Cần hiểu rằng, đây chỉ là khúc nhạc dạo đầu để thăm dò thái độ của Việt Nam mà thôi. Và nếu như không có một thái độ thật cứng rắn thì từ khúc nhạc dạo đầu đó nó sẽ là một bản “hòa tấu” quen thuộc của những lời có cánh đi liền với những hành động vi phạm chủ quyền Việt Nam. Đúng như sự nhận định của thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Bộ Công an ngày 31-5-2011: “Chủ quyền quốc gia là tối thượng của một dân tộc, là vĩnh cửu, là trường tồn. Không ai có quyền được mặc cả độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia mình cả... Phải nói rõ việc làm của Trung Quốc đã vi phạm gì, vi phạm đến đâu sự độc lập của chúng ta, để cho thế giới biết chúng ta không kích động chủ nghĩa dân tộc mà là tinh thần tự tôn dân tộc”. 

Lòng yêu nước gắn làm một với tinh thần tự tôn dân tộc là điểm nhạy cảm nhất trong tâm thế Việt Nam, chạm đúng vào điểm nhạy cảm ấy là một sức mạnh vô bờ được bật dậy “kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước ” như Bác Hồ đã từng phân tích. Đây chính là lúc phải biết tiếp tục phát huy truyền thống Việt Nam quật cường bất khuất không bao giờ chịu hèn yếu cúi đầu khuất phục cho dù kẻ thù có hung bạo đến đâu. Kinh nghiệm lịch sử đã cho thấy, chỉ giữ được hòa hiếu nếu chúng ta có đủ thực lực. Khi Nguyễn Trãi nhằm “sửa hòa hiếu cho hai nước, tắt muôn đời chiến tranh” đã “nghĩ kế lâu dài đất nước, tha kẻ hàng mười vạn sĩ binh” [Bình Ngô đại cáo]. Mà làm được vậy vì thực lực của cuộc kháng chiến ở thế kỷ XV buổi ấy vốn đã từng “Gươm mài đá, đá núi cũng mòn; voi uống nước, nước sông phải cạn, Đánh một trận sạch không kình ngạc, đánh hai trận tan tác chim muông”.[Bình ngô đại cáo] 

Cũng vì vậy, đúng một năm trước ngày Toàn quốc kháng chiến 19-12-1946, Hồ Chí Minh từng căn dặn : “Phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to thì tiếng mới lớn”. Để có đủ thời gian gây dựng thực lực, Hồ Chí Minh đã từng khai thác bất cứ khả năng nào có thể, cho dù là nhỏ nhất, để nhân nhượng nhằm kéo dài thời kỳ hoà bình mong manh. Thế nhưng, “Chúng ta muốn hòa bình. Chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa..Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ ”. Đó chính là bản lĩnh của Hồ Chí Minh. 

Có được bản lĩnh ấy vì Hồ Chí Minh tin chắc vào sức mạnh của dân tộc mình, biết cách khởi động và đẩy tới đỉnh cao sức mạnh đó bằng đường lối đại đoàn kết dân tộc. “Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên”. Nội hàm của khái niệm “đồng bào” của Hồ Chí Minh rất rộng lớn và dứt khoát : “bất kỳ đàn ông đàn bà, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, bất kỳ người già, người trẻ. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc”. Vũ khí vạn năng của “người Việt Nam” là lòng yêu nước và ý chí quật cường lưu truyền trong huyết quản. Chính cái đó là chất xi măng gắn kết khối đại đoàn kết dân tộc trên nền tảng của dân chủ và tự do được nghiêm chỉnh thực hiện. Bởi lẽ, “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì”. 

Đã đúng một trăm năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước để có một đất nước như hôm nay. Đúng vào dịp này, tiếng sóng biển vỗ dưới thân tàu “đưa tiễn Bác” thuở nao nay lại đang sục sôi gầm thét về hành động xâm phạm chủ quyền Việt Nam, khúc dạo đầu cho toan tính liếm trọn Biển Đông để thỏa cơn khát năng lượng. 

Chúng ta khát khao hòa hiếu và hữu nghị với các nước láng giềng. Tuy nhiên, hòa bình và hòa hiếu không thể bằng sự nhân nhượng mà có được. Bởi vậy, phải thường trực nuôi dưỡng và phát huy ý chí quật cường bất khuất mà ông cha ta bao đời nuôi dưỡng để biến thành vũ khí mầu nhiệm bảo vệ chủ quyền. Kỷ niệm một trăm năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước đúng vào lúc mà Biển Đông đang nổi sóng. Đây không còn là “sóng vỗ dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương” của trăm năm trước khi đất nước còn trong xiềng xích của thực dân, đế quốc, phát xít mà là tiếng sóng phẫn nộ của một đất nước độc lập, thống nhất đang đối diện với hành động và mưu toan lấn chiếm chủ quyền lãnh thổ của một quốc gia từng hiên ngang đứng bên bờ Thái Bình Dương đầy thử thách. Biển Đông đang cuộn sóng. 

Biết cách khởi động sức mạnh toàn dân để bảo vệ chủ quyền là việc cần kíp hôm nay. Đó là chính cách thiết thực kỷ niệm và học tập bản lĩnh Hồ Chí Minh. 
GS Tương Lai 

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=303712

Truyện ngắn TẮM TIÊN
dactran | 04 May, 2011, 05:09 | Bút ký | (78 Reads)

  

              Có một niềm vui như thế

                                                                                         

                                                                                     Nguyễn Anh Đào 

 

     Báo Văn nghệ số đặc biệt 18+19 ra ngày 30-4-2011, nhân kỷ niệm ngày giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước đã in truyện ngắn dự thi của tác giả Trần Như Đắc với cái tên ngồ ngộ “Tắm tiên”. Truyện đơn giản, nhưng đậm tính nhân văn. Vẫn giọng văn nhẹ nhàng, lối kể chuyện hồn nhiên, không trau chuốt, ít dùng thủ pháp ẩn dụ mà vẫn làm cho người đọc cảm nhận được ý nghĩa của hình tượng qua từng tính cách nhân vật. Đây là bước đi tiếp của “Chị tôi ở phố Hòe Nhai”, (báo Văn nghệ số đặc biệt kỷ niệm đại lễ nghìn năm Thăng Long – Hà Nội), của “Một thời lính” NXB QĐND mà Trần Như Đắc vừa mang đến cho người đọc dịp đầu xuân Tân Mão.

     Nói “tắm tiên”, có người nghĩ đến cảnh các cô gái Thái ở Tây Bắc thả mình trên các dòng suối mát để rồi tò mò, liên tưởng về những xúc cảm bản năng. Nhưng không phải. Trong truyện của Trần Như Đắc, vẫn cảnh tắm tiên, nhưng là cảnh một vị tướng và một anh lính cần vụ hồn nhiên cọ lưng, cọ người cho nhau, rồi cùng ngắm của quý của nhau mà cười.

     Cái ông tướng Nông Văn Khờ ấy thích sống hòa vào với thiên nhiên, cùng vào rừng lấy măng, lấy nấm với lính, thích uống rượu nút lá chuối nhắm với măng đắng chấm muối ớt. Ông không nhận quà biếu của cấp dưới, không yêu cầu cần vụ phục dịch, kể cả giặt quần áo. Có chăng, ông chỉ bảo kỳ hộ lưng khi ông tắm, mà tính ông thì thích tắm truồng ở suối. Những lúc ấy, thân hình ông tạc vào không gian như một bức tượng, “thịt da ông nhẵn bóng màu đồng hun”… Một vị tướng như thế, gì mà quân đội ta không hùng mạnh. Đọc “Tắm tiên” của Trần Như Đắc, ta lại nhớ tới Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo, câu: “Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào…”. Đó là tiền đề, là cơ sở để quân dân ta đánh thắng mọi thứ giặc ngoại xâm, dù chúng mạnh đến đâu.

     Nhưng người đọc vẫn thấy buồn.

     Bên cạnh tướng Khờ dân dã, sống chan hòa với lính thì lại có ông tướng Huy sống quan cách, thích quà biếu của cấp dưới. Mỗi lần về thăm nhà thì thằng Hòa cần vụ lại tất bật lo đóng gói những thứ quà cáp mà người ta biếu thủ trưởng của nó rồi chất đầy cả xe chở đi. Nghe tin ở đơn vị nào bắn được gấu rừng là thủ trưởng Huy cũng tìm cách gợi ý để họ biếu cho cái mật. Một thủ trưởng như tướng Huy, tất phải có một cần vụ như thằng Hòa, xun xoe nịnh hót, tận tụy tăm nước cho thủ trưởng sau mỗi bữa ăn. Và con đường thăng tiến của hắn cũng khác cần vụ của tướng Khờ. Hòa được cất nhắc, cho đi học sĩ quan chỉ huy. Còn “tôi”, cần vụ của tướng Khờ, được thủ trưởng quý mến đã giải quyết theo nguyện vọng, cho về tiểu đoàn Bốn, vì ở đấy “có suối Nách ở bản Dao đẹp lắm, tha hồ mà tắm tiên nhé!”.

     Hai vị tướng với hai người lính cần vụ qua truyện ngắn “Tắm tiên” của Trần như Đắc là hai bức tranh đối lập, một sáng, một tối, đáng để người đọc suy ngẫm.

 

     Không được giải gì trong đợt xét giải 5 năm của tỉnh Phú Thọ (2005-2010), mặc dù tác giả có hai tập truyện được in gửi xét. Trong khi đó, mọi người khuân giải về như khuân củi. Tuy có buồn, nhưng Trần Như Đắc không nản. Anh vẫn cặm cụi viết, và viết. Anh khiêm tốn học hỏi những người có kinh nghiệm hơn mình. “Một thời lính” ra mắt bạn đọc, được mọi người đánh giá cao qua cuộc hội thảo vừa rồi đã phần nào động viên anh. Trần Như Đắc quan niệm: Viết là để thể hiện tình cảm của mình trước cuộc sống, chứ phải đâu là để lấy giải.

     Trần Như Đắc không có tên trong danh sách hội viên Hội nhà văn, nhưng tuần báo Văn nghệ của Hội trong hai số đặc biệt gần đây đã in hai truyện ngắn của anh, một tác giả tỉnh lẻ, không tên tuổi, không một lần “A lô” với BBT, điều đó thật đáng trân trọng. Không những thế, đó còn là mơ ước của một số nhà văn ngực đeo huy hiệu, nhưng chưa thấy có truyện ngắn nào ra hồn được in trên báo, nhất là báo Văn nghệ.

     Báo phát hành ngày 30-4, nhưng ngày 28-3 đã có bán ở quầy bưu điện. Anh Đắc đã mua vài tờ và đem đến tặng tôi một tờ. Trên nét mặt anh lộ rõ sự vui mừng. Đó là cái vui của một bác nông dân cần cù vừa được mùa bội thu, bõ những ngày cuốc cày, mưa nắng.

     Xin chia sẻ chân tình cùng tác giả.  

 

                                                                N. A. Đ

altA

alt

góp ý

  1. Người viết văn,nghĩ được một truyện tâm đắc để viết là một hạnh phúc,được đăng báo thì thấy sướng vô cùng nhưng được người đọc hiểu rõ những ý tưởng của người viết thì càng vui hơn.Bác Anh Đào là người rất am hiểu ,lại là người rất chân tình nên đã luôn động viên tôi rất đúng lúc,chân thành cảm ơn Bác nhiều.

    Viết bởi dactran — 04 May 2011, 14:03

  2. Tắm tiên viết rất gọn nhưng hàm súc đầy ăm ắp phải không bác? Cần gì phải huy hiệu Hội Nhà văn đeo ngực, mua mép xưng danh nọ kia mà vưỡn ra được tác phẩm? Cụ giáo sức khỏe kém vậy mà vẫn để tâm, vẫn viết rất gan ruột về bạn bè đâu cần "mác" nọ, danh kia? Chúc cụ giáo sức khỏe và sáng tạo.

    Viết bởi xuân thu — 04 May 2011, 13:27

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=295804

Mưa trong ca khúc Trịnh
dactran | 07 Mar, 2011, 06:12 | Bài của bạn bè | (40 Reads)
Đăng ngày: 14:06 04-03-2011
Thư mục: van hoa xa hoi
Đăng ngày: 12:33 03-03-2011
Thư mục: Trịnh Công Sơn

“Diễm xưa”, một tình khúc nổi tiếng của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, mà phần lớn người Huế đều yêu thích; cũng được người Nhật yêu thích, chuyển ngữ với tựa đề “Utsukushii Mukashi”, rồi lại được Đại học Kansai Gakuin chọn làm nhạc phẩm đưa vào chương trình giảng dạy trong bộ môn Văn hóa và Âm nhạc; bắt đầu bằng những ca từ:

Mưa Huế

 

Mưa Huế


“Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ,
Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao,
Nghe lá thu mưa, reo mòn gót nhỏ,
Đường dài hun hút cho mắt thêm sâu...”

 

         Trong ký ức Diễm của những ngày xưa, Trịnh Công Sơn kể lại:“Thuở ấy có một người con gái rất mong manh, đi qua những hàng cây long não lá li ti xanh mướt để đến trường Đại học Văn khoa ở Huế. Nhiều ngày, nhiều tháng của thuở ấy, người con gái ấy vẫn đi đi qua dưới những vòm cây long não. Có rất nhiều mùa nắng và mùa mưa cũng theo qua... Mùa mưa Huế, người con gái ấy đi qua nhoà nhạt trong mưa giữa hai hàng cây long não mờ mịt...”

 

      Nói về sinh thái học nhân văn, giáo sư Trần Quốc Vượng bảo rằng văn hóa - nhân văn Huế đã “dựa theo và thích nghi với hệ sinh thái tự nhiên”. 

 

     Đường vô xứ Huế loanh quanh, phần lớn diện tích của Thừa Thiên - Huế có địa hình đồi núi tạo thành một vòng cung từ phía tây xuống phía nam. Các dãy núi cao của Trường Sơn Bắc ăn lan ra sát biển và đột ngột chấm dứt ở phía nam của tỉnh bằng một mạch núi cao lên đến trên 1000m đâm thẳng ra biển và kết thúc bằng hòn Sơn Trà ở phía đông núi Hải Vân như một bức tường thành đồ sộ chắn gió mùa đông bắc, nên các đợt gió mùa hầu như không còn đủ sức vượt qua dãy núi cao này.

 

     Do vậy, bao nhiêu lượng hơi nước trong không khí của gió mùa đều tích đọng ở Huế gây nên mưa và rét, và đây là vùng có lượng mưa vào loại nhiều nhất nước ta. Đặc biệt mưa Huế là loại mưa lệch pha: ở hai miền bắc nam thì có hai mùa mưa và khô gần như trùng nhau trong hai nửa thời gian của năm với hai mốc khoảng tháng 4 và tháng 10 dương lịch, còn ở Huế mùa mưa lại trùng với mùa đông lạnh.

 

     Vào những lúc thời tiết đông lạnh mưa như vậy, người Huế ít ra khỏi nhà, thường nhìn mưa mà hồi ức với những kỷ niệm xưa... Từ đó hình thành nên một trong những nét của phong cách người Huế là thường trầm tư mặc tưởng, sống hướng nội hơn hướng ngoại, thích sâu lắng, không thích khoa trương ồn ào...

 

 

...Kiểu mưa Huế ấy, đã được mô tả rất đặc sắc: “trời còn làm mưa, mưa rơi mênh mang / thênh thang...”, hoặc “mưa kéo dài lê thê những đêm khuya lạnh ướt mi”, hoặc:

 


“Chiều chủ nhật buồn,
Nằm trong căn gác đìu hiu,
Ôi tiếng hát xanh xao của một buổi chiều,
Trời mưa trời mưa không dứt,
Ô hay mình vẫn cô liêu...”

 

 

Và so sánh với mưa các xứ khác, nhạc sĩ đã cho thấy rõ:

 


“Em còn nhớ hay em đã quên,
Nhớ Sài Gòn mưa rồi chợt nắng...”

 

      Trịnh Công Sơn tâm sự: “...Thường thường, con người có thói quen sống bằng kỷ niệm, và khi một tác phẩm được gắn liền với kỷ niệm thì tác phẩm ấy đã sẵn có bề dày của sự ưu ái rồi!”.

 

 

     Hãy theo dõi tiến trình xao xuyến của nhạc sĩ về kỷ niệm “yêu nhau yêu cả đường đi” trong không gian mưa... Với sự tả thực, khi thì“nghe lá thu mưa, reo mòn gót nhỏ...”, khi thì “mưa thì thầm, dưới chân ngà...”; nhưng khi những hình ảnh ấy chỉ còn là ký ức thì nhạc sĩ lại xót xa “...trên bước chân em, âm thầm lá đổ...”. Cho nên“...bước chân em xin về mau...” vẫn tiếp diễn mãi như hiệu ứng domino:

 


“Người ngồi xuống, mây ngang đầu, 
Mong em qua, bao nhiêu chiều...”

 

 

     Một lối tu từ được nhạc sĩ sử dụng để ẩn dụ “còn mưa xuống như hôm nào, em đến thăm...”, mà “người ngồi đó, trong mưa nguồn, ôi yêu thương, nghe đã buồn...”, thì tính chất cơn mưa lại là một đối trọng được đặt ra để so sánh:

 


“Mưa có buồn bằng đôi mắt em?...
Mưa có còn buồn trong mắt trong?”

 

 

     Là người Huế, các điệu hò mái nhì, mái đẩy man mác nước sông Hương chính là một biểu hiện rõ nét tính cách sâu lắng trong tâm hồn; cho nên những tiếng rơi của cơn mưa lại được ẩn dụ qua điệu ru “thôi ngủ đi em, mưa ru em ngủ...” là điều rất kỳ lạ:

 


“Trời còn làm mưa, mưa rơi mênh mang...
Lời ru miệt mài, ngàn năm ngàn năm,
Ru em nồng nàn, ru em nồng nàn...”

 

 

     Đó là những cơn mưa thực thể, nhưng ở nhạc sĩ họ Trịnh lại còn có những cơn mưa trong tâm thức:

 


“Nghe mưa nơi này, lại nhớ mưa xa,
Mưa bay trong ta, bay từng hạt nhỏ...”

 

 

Hoặc:

 


“Đôi khi, trên mái tình ta, nghe những giọt mưa,
Tình réo tình âm thầm, sầu réo sầu, bên bờ vực sâu...”

 

      Giải thích ý nghĩa tác phẩm của mình, Trịnh Công Sơn nói: “Âm nhạc của tôi, nói cho cùng chỉ là những kỷ niệm của tôi và rồi sẽ là kỷ niệm của người nghe...”. Vì thế, giáo sư Cao Huy Thuần nhận xét: “Cảnh, tình và người trong Trịnh Công Sơn là cảnh Huế, tình Huế, người Huế... Sau này Sơn rời Huế và Sài Gòn, chất thơ trong nhạc của Trịnh Công Sơn vẫn là chất Huế, nguồn thơ vẫn chảy từ Huế. Vô số những bài hát của Sơn đều ướt và mưa. Vì Huế là xứ của mưa dầm. Mưa mùa đông, mưa mùa hè, mưa sợi nhỏ, mưa sợi to, mưa tỉ tê, mưa ray rứt, cảnh mưa trong Trịnh Công Sơn buồn nhưng rất đẹp...”.

 

 

      Cuối cùng, nhạc sĩ bộc bạch, cho dù suối nguồn tạo cảm hứng trong tình ca của mình xuất phát như thế nào, vẫn không thể thiếu được một điều kiện tự nhiên:

 


“Từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ,
Ôi! những dòng sông nhỏ, lời hẹn thề... là những cơn mưa...”

 

 

      Và đó chỉ là một tiền đề, một tiền đề để người nghệ sĩ ước mong được tiếp tục cuộc hành trình của mình:

 

“Xin hãy cho mưa qua miền đất rộng,
Để người phiêu lãng, quên mình lãng du...”
 

 

alt

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=284093

Anh hùng giữa đời thường
dactran | 07 Mar, 2011, 06:04 | Bút ký | (85 Reads)

    HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

 

           ANH HÙNG GIỮA ĐỜI THƯỜNG            

                                                                                    

 

 

Trông anh lúc nào cũng hiền.Khuôn mặt hiền,đôi mắt hiền,nụ cười hiền,đến dáng đi,lời nói,cái gì cũng thấy hiền hiền.Anh là trung tá quân đội,anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Hữu Quyền,quê xã Phù ninh,huyện Phù ninh,tỉnh Phú thọ

          Tôi biết anh Quyền từ những năm 1990,khi ấy anh là trưởng ban Dân quân,Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Vĩnh Phú,tôi là viện trưởng viện Kiểm sát Quân sự Tỉnh,hai cơ quan ở cạnh nhau.Hồi đó,cơ quan Bộ chỉ huy còn vất vả lắm,nhà làm việc toàn nhà cấp 4,xung quanh doanh trại toàn là vườn rau xanh um.Vườn rau của ban Dân quân là xanh nhất.Đi công tác thì thôi,cứ về đến cơ quan,việc đầu tiên là anh Quyền đảo ra vườn rau trước đã,rồi anh nhổ cỏ,bắt sâu,buộc lại bờ rào,lấy phân ,pha nước tiểu tưới cây.Các trợ lý cũng theo anh mà làm,chẳng phải phân công phân nhiệm gì.

          Xuống Huyện ,xuống xã chỉ đạo Dân quân,anh cũng sâu sát ,tỷ mỷ,nhắc nhở uốn nắn chu đáo,truyền lại cho họ những kinh nghiệm quý báu mà anh đã trải qua ở chiến trường khiến các bài lên lớp của anh bao giờ cũng sinh động ,hấp dẫn,rồi anh laị hỏi han việc tăng gia sản xuất,có lẽ cái chất nông dân nó ngấm sâu vào người anh rồi.

          Năm 1992 thì anh được nghỉ hưu,kể ra là nghỉ hơi sớm về tuổi,vì anh là thương binh.Người khác thì chắc buồn,nhưng anh thì mừng ra mặt,xin bàn giao công việc ngay cho người thay thế,chuẩn bị ba lô,quần áo để về nhà như chuẩn bị đi công tác.Tham mưu trưởng cười bảo: “Bác cứ từ từ,để cơ quan còn tổ chức liên hoan chia tay đã”.Lúc ấy anh mới cười ngượng nghịu như người có lỗi : “ Ừ nhỉ,cũng còn phải chào hỏi anh em ở dưới huyện,dưới xã nữa”.

          Ở các phường,các xã,các huyện đều biết tiếng anh hùng Quân đội Nguyễn Hữu Quyền.Nghe chuyện chiến đấu thời đánh Mỹ của anh mà phục lăn.

          Nguyễn Hữu Quyền được tuyên dương anh hùng ngày 20 tháng 12 năm 1969 khi anh mới 24 tuổi, là đảng viên,thượng sĩ,trung đội trưởng,tiểu đoàn 3 trung đoàn 246 ,măt trận Trị Thiên.Trận đánh đáng nhớ nhất là ngày 1 tháng 7   năm 1968 ở Cam lộ ,Quảng trị.Hôm đó,tiểu đoàn Nguyễn Hữu Quyền được lệnh chờ đánh địch ở điểm cao 689,măc dù qua ba ngày thiếu ăn,chịu rét,quân địch lại thường cho pháo kích,dội bom,anh vẫn động viên anh em kiên nhẫn chờ địch.Khi địch đổ quân,tiểu đội của Quyền đánh mãnh liệt,bản thân anh dùng tiểu liên và thủ pháo diệt 20 tên Mỹ,cùng tiểu đội diệt 26 tên Mỹ khác,đánh bật 4 đợt phản kích của địch.Ba ngày sau,đơn vị tổ chức đánh một vị trí đóng quân của địch,Nguyễn Hữu Quyền dẫn một tiểu đội bí mật vào sát trận địa địch,bản thân anh diệt 27 tên,khi bị thương,anh nhường cáng cho đồng đội,tự mình về trạm Quân y mang theo một súng.Sau một thời gian điều trị,Quyền lại tham gia trận đánh Động tiên (Cam lộ ) ngày 21 tháng 11 năm 1968 Trận này đơn vị anh chờ địch suốt 2 ngày,sau khi địch đổ quân,Quyền mưu trí lừa địch đến gần,giật mìn định hướng,rồi cùng đồng đội bắn mãnh liệt vào đội hình chúng,địch hoảng loạn tháo chạy bỏ lạ 36 xác chết

 

*  *  *

 

 

          Quê anh Nguyễn Hữu Quyền ở xã Phù ninh, gần thành phố Việt trì,sát cạnh đền Hùng.Nghỉ hưu về địa phương,anh được tín nhiệm bàu ngay làm chủ tịch hội Cựu chiến binh xã,ủy viên ban chấp hành hội Cựu chiến binh huyện và tỉnh,được mời dự các hội nghị liên tục,lại còn là ủy viên Mặt trận tổ quốc cũng lại từ xã, huyện ,tỉnh.Rồi dòng họ,rồi đồng ngũ…ở đâu người ta cũng muốn có mặt anh.Thành ra về hưu mà bận rộn hơn cả đương chức.Vì hiền lành nên anh không hay từ chối,mà cũng chẳng biết cách nói khéo để chối từ.

          Nhưng anh vẫn không lơ là với mảnh vườn và mấy sào ruộng.Anh như một lão nông tri điền với luống cày.Anh đi cày,bừa,cuốc đất ,gánh phân,không từ một việc gì.Vợ anh cũng mừng nhưng lại lo,sợ chồng hăng hái quá sức mà đổ ra ốm thì khổ,mà anh có phải người lành lặn gì cho cam,trong thân thể hàng đống vết thương,có mảnh đạn vẫn chưa gặp ra được,chưa biết phát tác ra lúc nào,rồi cả chất độc màu da cam nữa,bao nhiêu năm ở chiến trường Trị Thiên là nơi túi bom,nơi Mỹ thả nhiều chất độc.Hồi ấy cũng mới bước vào thời kỳ đổi mới,nên đất nước vẫn còn nghèo,còn gian khổ lắm.Lương trung tá lúc ấy chẳng đáng là bao,cộng với trợ cấp thương binh cũng vẫn không đủ chi dùng,còn làm chủ tịch cựu chiến binh,lúc đầu chưa có lương,sau có thì chẳng biết sao không thấy cấp,có năm chỉ cấp được 1,2 tháng.Người khác thì đã hỏi cho ra nhẽ,anh thì cứ cười trừ bảo vợ “Rồi đâu khắc có đó”.Khó khăn quá,anh còn vác xe đạp đi mua chuối,dưa mang ra tận chợ Vồ(Việt trì)để bán  kiếm lời.

          Lại còn chuyện đất cát nữa.Hồi còn ở Tỉnh đội,vừa là cán bộ cấp tá,vừa là anh hùng lực lượng vũ trang nên anh cũng thuộc diện được Thành phố cấp cho một ô đất để làm nhà.Người khác thì nhanh nhảu đi làm các thủ tục,anh thì cứ thản nhiên như không,có người nhắc thì anh thật thà bảo “Ở quê khối đất rồi,đất ở đâycấp lúc nào chả được”.Thế là nhẽ ra làm sớm thì anh được cấp đất ở mặt đường Đại lộ Hùng vương,nhưng thấy anh hiền lành lại không hăng hái lắm,nên mấy tay ở phòng Địa chính đã biến tướng ô đất ấy cho người khác,họ được hưởng hoa hồng bao nhiêu không biết,chỉ biết đến khi anh Quyền có bạn bè nhắc nhở mãi mới đi hỏi thì họ trả lời “Ô đất đó đã cấp cho người khác có nhu cầu mất rồi,đồng chí cứ yên chí chúng tôi sẽ cấp cho ô khác.Cái “ô khác” đó là mảnh đất loại 3 ở băng 2,mãi trong ngõ,giáp với đường vào cổng Tỉnh đội,họ bảo với anh “Bác ở đây cho gần nơi làm việc”.Thế là anh mất trắng hàng tỷ đồng,người khác chắc không chịu sẽ đòi tiêu chuẩn đến cùng,anh Quyền chỉ cười “Thôi mà,làm gì cho to chuyện ,đất nào chả thế”.Mảnh đất ấy đã rẻ,sau này anh Quyền để lại cho anh bạn lại càng rẻ nữa,tiền thu được chẳng đáng là bao.

          Nhưng rồi đời sống cũng khấm khá dần,nước lên thì thuyền nổi,đất nước,làng quê đổi mới,phát triển thì mọi nhà cũng khá lên.Đồng lương trung tá,,phụ cấp thương binh đã có giá trị,lương chủ tịch hội cựu chiến binh được cấp đầy đủ.Nhưng với bản chất người lính cụ Hồ lúc nào cũng sống cần kiệm vẫn hăng say lao động sản xuất,nên anh Quyền vẫn chịu khó,chăm chỉ  lao động và biết cách lao động làm ra của cải,anh trồng đủ các loại rau,đỗ,khoai sắn,chăn nuôi lợn gà,cái gì anh cũng làm nhiều để bán và cải thiện gia đình.Có vốn khá,anh mua bán cả gỗ,mở xưởng mộc,việc công,việc tư bận túi bụi.Anh vẫn sống giản dị ,ăn mặc giản dị,thường vẫn là bộ quân phục cũ,chiếc xe máy Hon da 50 dùng lâu nhưng vẫn còn chạy tốt.Bà con dân làng vẫn quý người anh hùng của mình lúc nào cũng sống chân tình vui vẻ với mọi người.

 

                                                                             TRẦN NHƯ ĐẮC

 

 

 

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=284092

Tọa đàm về tập sách MỘT THỜI LÍNH
dactran | 18 Feb, 2011, 04:35 | Chung | (79 Reads)

Giới thiệu tập Truyện và ký "Một thời lính" của tácgiả Trần Như Đắc.

17.02.201122:28

Sáng ngày 16/2/2011, tại Hội trường Hội Liên hiệp VHNT Phú Thọ,đã diễn ra buổi tọa đàm, giới thiệu tập sách "Một thời lính" của tácgiả Trần Như Đắc. Tham dự có đông đủ các đồng chí lãnh đạo Hội, chi hội nhà văntỉnh Phú Thọ, đại diện các chi hội chuyên ngành, đông đảo hội viên chi hội vănxuôi, cùng các khách mời : bạn đồng ngũ, đồng môn trường Hùng Vương của tácgiả.

Phát biểu khaimạc buổi tọa đàm, họa sỹ Đỗ Ngọc Dũng - chủ tịch Hội Liên hiệp VHNT Phú Thọ  đánh giá cao đóng góp của tácgiả Trần Như Đắc. Ông có nhiều hoạt động tích cực, đóng góp vào sự phát triểnvăn học nghệ thuật tỉnh nhà. Bạn đọc biết tới ông qua các tác phẩm như:"Hậu duệ Lang Liêu " - (Tập truyện ngắn, Hội VHNT Phú Thọ, 2004);"Làng tôi" - (Tập truyện ngắn, Hội VHNT Phú Thọ,2006).    

                Ở độ tuổi gần 70, Trần Như Đắc lạitiếp tục xuất bản tập truyện ngắn "Một thời lính" như để nhớ, để triân kỷ niệm một thời. Là  ngườisinh ra tại Hà Nội với 32 năm trong quân ngũ, đeo quân hàm Thượng tá, Trần NhưĐắc đã mang đến cho người đọc những câu chuyện in đậm cuộc sống cũng như tìnhcảm của người chiến sỹ. Tập truyện "Một thời lính" là những tình cảm,những kỷ niệm tha thiết của tác giả giành cho người lính, những con người dũngcảm trong thời chiến, đầy lạc quan yêu đời, năng động trong công cuộc xây dựngkinh tế trong thời bình. Tập truyện được đánh giá cao và gây dư luận tốt trongbạn đọc.

                Đến dự buổi tọa đàm giới thiệu sách, nhiềubạn viết của ông đã có những nhận xét sâu sắc mà tinh tế dành cho tập truyện -ký. Tác giả Nguyễn Anh Đào với bài viết "Một thời lính - một thời đểnhớ" có những phát hiện về các nhân vật trong các tác phẩm : "Nhânvật trong tác phẩm có khi là một vị tướng, có khi là anh lính trẻ hay những cựuchiến binh đang sống cuộc sống đời thường. Nhưng ở họ có cái khác thường làluôn biết giữ gìn phẩm chất của anh bộ đội cụ Hồ, vượt qua những trở lực cũngnhư những cám đỗ thấp hèn để vươn lên làm tròn nhiệm vụ." Tác giả NguyễnAnh Đào nhận định : "Một thời lính với 24 truyện ngắn và bút ký, một lầnnữa, ánh lên cái chất nhân văn sâu đậm của một cây bút từng trải mình trongnhững năm tháng quân ngũ. Ở đó, ta bắt gặp một lối văn giản dị, trong sáng nhưchính cuộc sống và tâm hồn của tác giả, không đẽo gọt câu chữ, không uốn éogiọng điệu để khoe mẽ, phô phang..."

                 Tác giả Phạm Ngọc Kiệm trongbài: "Người lính viết về người lính" lại có những cảm nhận về tácphẩm, và đồng cảm với tác giả qua các ký ức chiến tranh, qua hình ảnhnhững  nguời lính trong thờibình chân thật và sống động để rồi tác giả phải thốt lên : "Đúng là línhviết về lính." Tác giả Phạm Ngọc Kiệm gửi gắm: "Số phận người lính vàđề tài chiến tranh cách mạng vẫn luôn là mảng hấp dẫn nhưng khó nhất là vớinhững cây bút chưa nếm trải. Trần Như Đắc là người lính, là người trong cuộc,những trầm tích chiến tranh và người lính trong anh là những vỉa quặng giàuchưa khai thác được bao nhiêu. Chúng ta đã có nhiều nhà văn chiến sỹ, nhưng cònhiếm những chiến sỹ nhà văn... người đọc sẽ đón đợi ở anh không chỉ "mộtthời lính" mà nhiều thời lính hơn nữa".

                Tác giả Cao Văn Định trong bài"Nét đẹp lính cụ Hồ" đã khái quát những gì mà tác giả cho là tinh hoacủa "Một thời lính". Tác giả tỏ ra tâm đắc với các tác phẩm "Chịtôi ở phố Hòe Nhai", "Buốn tàn thu", "Xóm Mực","Ông tướng về hưu và bé ô sin", "Bạn gái lính biên phòng","Một lần điên". Tác giả cho rằng ranh giới giữa truyện và ký trong"một thời lính rất nhòe". Trần Như Đắc đã nhất quán với tuyên ngôncủa chính mình là tôn trọng mọi sự thật khi đặt bút. Tác giả Cao Văn Định nhậnxét: "Điều ghi nhận về tập sách này là cái tâm sáng của người viết  đã bền bỉ theo từng nhân vật để tônvinh nét đẹp của người lính cụ Hồ, nhất là với những cựu chiến binh biết sốngđẹp giữa đời thường."

                Tác giả Đỗ Nguyên Thương "Nhậnxét về Một thời lính của Trần Như Đắc" với những pháthiện riêng và chú trọng vào những điểm mà tác giả cho là ấn tượng nhất. Truyệnngắn "Chị tôi ở phố Hòe Nhai" được xem là một trong những điểm sángcủa tập truyện, cùng với "Uớc mơ xuân", "Buồn tàn thu" ...làmnên cái hồn của "Một thời lính" ."Chịtôi ở phố Hòe Nhai"  kểvề cuộc đời một người phụ nữ có nhan sắc, thời kháng chiến cùng gia đình đi tảncư, chồng ra chiến trường, chị gạt bỏ mọi cám giỗ, những thị phi của dư luậnmột mực chờ chồng. Dù có bao người đem lòng thầm yêu trộm nhớ nhưng  chị vẫn vững tâm, thủy chung vớingười chồng đang ở nơi xa biền biệt. Có những lúc tưởng như chị bị cuốn vàovòng quay của cuộc sống, có khi tưởng như lý trí không thắng nổi tình cảm,nhưng chị đã vượt qua. Sau một thời gian dài  cùngmẹ chồng và các em chồng tần tảo, lam lũ kiếm sống tại vùng đất Hạ Hòa xa xôi,chị đã bỏ về Hà Nội trước mẹ và các em. Nhưng không phải chị đi theo tiếng gọicủa trái tim khao khát yêu thương mà bỏ mẹ chồng, em chồng nheo nhếch. Chị đểlại chỉ vàng cho mẹ chồng ... theo bạn gái về Hà Nội. Sau này, chị lại đoàn tụvới gia đình, chắp nối những yêu thương. Nhưng cuộc đời chị hồng nhan bạc mệnh.Chưa hạnh phúc được bao lâu, chị lại mắc pahỉ căn bệnh ung thư quái ác, gây chongười đọc nhiều cảm xúc xót xa. ĐỗNguyên Thương có những nhận xét rất sắc sảo về cách xây dựng hình ảnh người chịcủa nhân vật tôi trong "Chị tôi ở phố Hòe Nhai" :"Ngòi bút củatác giả không giản đơn, không dễ dãi, tác giả không để nhân vật sa ngã nhưngcũng không để nhân vật đẹp một vẻ đẹp trong suốt như pha lê chỉ có trong bútpháp của nhà văn lãng mạn mà không có chất hiện thực đời thường."

                Với những nhận xét của các bạn viết,buổi gặp mặt, giới thiệu tập sách diễn ra trong không khí sôi nổi và gần gũi.Một tập sách hay được giới thiệu và cũng là sự động viên đối với người viết,tiếp tục có những tác phẩm hay hơn nữa, đóng góp vào sự phát triển của văn học- nghệ thuật của tỉnh nhà.

                Tác giả đã có lời cảm ơn đến lãnh đạoHội, các bạn viết đã tạo điều kiện để tác giả có cơ hội giới thiệu tác phẩm tâmhuyết của mình và nhận được những nhận xét, những lời động viên hết sức giátrị.

                 Lãnh đạo hội, Tạp chí VNĐT, đạidiện Hội Nhà văn Việt Nam, Chi hội Nhà văn tỉnh Phú Thọ, đại diện trưởng cácchi hội chuyên ngành, các bạn đồng ngũ, đồng môn trường Hùng Vương đã tặng tácgiả những bó hoa tươi thắm như một sự động viên, chúc mừng những nỗ lực sángtác của tác giả.

                Buổi gặp mặt, giới thiệu tác phẩm thựcsự là một hoạt động bổ ích, góp phần động viên những cây bút tiếp tục sáng tácđể có những tác phẩm hay để giới thiệu đến đông đảo bạn đọc.

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=281062

giới thiệu tập sách MỘT THỜI LÍNH
dactran | 14 Feb, 2011, 10:52 | Truyện ngắn | (36 Reads)
"Một thời lính" - Tập truyện ngắn của tác giả Trần Như Đắc14.02.2011 16:55

"Một thời lính" - (NXB Quân đội nhân dân - 2011) là tập truyện ngắn hay của tác giả Trần Như Đắc.
Bạn đọc biết tới ông qua các tác phẩm như: "Hậu duệ Lang Liêu " - (Tập truyện ngắn, Hội VHNT, 2004); "Làng tôi" - (Tập truyện ngắn, Hội VHNT Phú Thọ, 2006). Nay đã ở độ tuổi gần 70, Trần Như Đắc lại tiếp tục xuất bản tập truyện ngắn "Một thời lính" như để nhớ, để tri ân lại kỷ niệm một thời. Là Thượng tá quân đội, mang trên mình màu áo xanh người lính, Trần Như Đắc đã mang đến cho người đọc những câu chuyện in đậm cuộc sống cũng như tình cảm của người chiến sỹ. Tập truyện "Một thời lính" là những tình cảm, những kỷ niệm tha thiết của tác giả giành cho người lính, những con người dũng cảm trong thời chiến, đầy lạc quan yêu đời, năng động trong công cuộc xây dựng kinh tế trong thời bình. Nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn đã có những nhận xét tinh tế giành cho tác phẩm "Một người lính" của Trần Như Đắc: "Văn ông mộc mạc, giản dị và trong sáng để người đọc có cảm tưởng ông không viết văn và chỉ là đời thực được ông bộc bạch giãi bày tâm trạng. Truyện của ông đều có kết cấu chặt chẽ như cuộc sống vốn thế. Không thấy có bàn tay kỹ thuật của người viết nhúng vào đã giúp cho cây bút truyện ngắn Trần Như Đắc thành công và được khẳng định".
Website Văn học nghệ thuật Phú Thọ giới thiệu đến bạn đọc bài viết "Đọc sách một thời lính" của nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn và một số tác phẩm tiêu biểu trong tập truyện này.

 

 Đọc sách "Một thời lính"
 NGUYỄN HỮU NHÀN

           Trần Như Đắc là sĩ quan QĐND. Từng làm Viện trưởng một Viện kiểm soát quân sự ở vùng Tây Bắc, nay đã về hưu. Mươi năm trước anh thỉnh thoảng qua lại Việt Trì, gửi cho chúng tôi một bản thảo truyện ngắn. Truyện anh viết chắc tay, cái nào cũng in được, gần như không phải biên tập lại. Chúng tôi rủ anh làm đơn để kết nạp vào Hội Văn học Nghệ thuật Vĩnh Phú nay là Hội Phú Thọ.
         Anh là người trầm tính, kiệm lời, hỏi về mơ ước văn chương thì chỉ cười khì, nói "tôi thấy gì thì viết nấy, có biết gì về nghệ thuật sáng tác đâu". Nhưng khi đọc truyện ngắn "Làng Mực" thì tôi giật mình thấy anh viết chắc tay quá. Cái Làng Mực gần giống như trăm ngàn làng quê Việt Nam với những con người có tên gọi nôm na như bà Bèo, cô Bọt, chị Nhuần, vợ chồng nhà San - Lực... họ hồn nhiên giản dị, vừa hào phóng vừa keo kiệt vừa vị tha vừa xấu tính. Làng hiện ra với bao việc trai sấp gái ngửa nhưng lại đùm bọc cưu mang nhau lúc khó khăn. Làng đang đổi mới từng ngày, đang chung lưng đấu cật để sửa sang làng xóm. Làng văn hóa vẫn ngầm chứa trong nó bao chuyện vô văn hóa, cái tên làng Mực đã gợi bao nhiêu chuyện tốt, xấu trong đó rồi. Thiên truyện giản dị như tác giả bê nguyên si cuộc sống vào đó. Văn chương trong sáng và thiên truyện được kết cấu chặt chẽ không một chi tiết thừa. Anh in hai truyện ngắn "Người hát Văn Cao" ; "Quán cá" được anh em ở Phú Thọ bàn tán ca ngợi, nhưng tác giả hai thiên truyện ấy thì chẳng ai nhớ tên vì anh sống kín đáo khép mình ít giao du và ít nói chuyện văn chương. Đọc truyện "Buồn tàn thu" mới thấy dược khả năng khái quát của anh giúp cho thiên truyện đượm chất bi hùng giàu tính nhân văn, làm người đọc vừa buồn vừa vui đến trào nước mắt.         
         Đó là truyện của hai chàng trai Hà thành đi kháng chiến chống Pháp. Họ cùng học ở trường Thăng Long. Vào bộ đội lại nhiều lần cùng được đề bạt, cùng được kết nạp Đảng. Mạc Lan lên trung đội trưởng thì Bùi Huy phụ trách chính trị trung đội. Mạc Lan lên đại đội trưởng thì Bùi Huy lên chính trị viên trưởng đại đội. Rồi Bùi Huy được lên chính trị viên phó tiểu đoàn. Một cuộc liên hoan văn nghệ của tiểu đoàn, mọi người hát vang những ca khúc chính trị thì Mạc Lan lại ôm ghi ta đơn ca bài "Buồn tàn thu" của Văn Cao. Chính trị viên phó tiểu đoàn Bùi Huy bèn chồm lên chỉ mặt Mạc Lan vô chính trị, tiểu tư sản hát nhạc vàng làm nhụt chí khí tinh thần bộ đội. Từ đấy Mạc Lan bị quy kết đến nỗi sống thu mình và sinh mệnh chính trị coi như chấm hết. Người ta chuyển anh từ chỉ huy chiến đấu sang công tác quân nhu, hậu cần. Anh leo lên đến đại úy thì chững lại rồi giải trừ quân bị, bộ đội cho về vườn trong khi Bùi Huy cứ thẳng tiến, vùn vụt, lên đến hàm trung tướng.

Bài hát "Buồn tàn thu" đã hại cả đời anh. Còn người kia thì nhờ tỏ ra có lập trường quan điểm vững vàng từ khi biết phê phán bài "Buồn tàn thu" được cấp trên chú ý mà tiến bộ vượt bậc.

Rồi cậu con trai út của ông bà Mạc Lan tốt nghiệp đại học, muốn ra mắt người yêu với bố mẹ, đó là ca sĩ Ngọc Lan. Đến nhà hát, ông bà Mạc Lan được con trai mời vào ngồi cạnh ông bà thông gia. Ông Mạc Lan giật mình nhận ra ông thông gia chính là trung tướng Bùi Huy.

Ông Bùi Huy cũng láng máng nhận ra người cùng học và cùng thời chiến đấu ở chiến trường Tây Bắc năm xưa. Qua câu chuyện thấy ông Bùi Huy đã quên hết chuyện cũ. Cuộc đời ông Mạc Lan sau đó ra sao ông không hề hay biết.

Khi Ngọc Lan biểu diễn xong bài "Buồn tàn thu" thì cả khán trường vỗ tay ran lên. Bài hát thật sự hấp dẫn đối với khán giả, kể cả ông trung tướng Bùi Huy. Vì ca sĩ hát bài ấy lại chính là con gái nên ông không nén được niềm sung sướng. Ông cùng nhiều người xông lên sân khấu để tặng hoa và ôm hôn chúc mừng Ngọc Lan. Ông Mạc Lan ngồi chết lặng vì chính bài hất ấy đã kìm hãm số phận ông. May trước đỗ vợ ông đã đổi chỗ vào ngồi gần bà thông gia giúp cho ông ngồi cách xa hơn với ông trung tướng. Đó là chị tiết đắt có sức gợi mở. Có thể nói Trần Như Đắc có tài chọn lọc chi tiết đưa vào truyện. Nhờ có nhiều chi tiết điển hình, có sức khái quát cao mà người đọc càng thấy thiên truyện thật hơn cả thật. Đời thường ông kiệm lời văn chương thì ông kiệm chữ. Ông chỉ tung ra các chi tiết, không bao giờ tán rộng, bình phẩm về các chi tiết nên truyện ông luôn giữ được "ý tại ngôn ngoại".

Điển hình nhất là các chi tiết người chị dâu trong chuyện ngắn "chị tôi ở phố Hòe Nhai" của ông mới in trong báo Văn nghệ gần đây. Người chị dâu xinh đẹp nết na nổi tiếng, có chồng đi Nam tiến, chị từ Hà Nội cùng bố mẹ chồng và các em tản cư ra vùng tự do. Chị mở quán cà phê lấy tiền nuôi gia đình nhà chồng. Chị đẹp, pha cà phê lại ngon nên quán của chị lúc nào cũng đông khách. Có nhiều anh bộ đội mê chị thường xuyên kiếm cớ uống cà phê để được chuyện trò với chị. Có anh sĩ quan còn gửi thư tình cho chị. Rồi đột ngột chị cùng người bạn gái "dinh tê" về Hà Nội buôn bán để thường xuyên gửi vàng ra nuôi gia đình nhà chồng. Rồi hòa bình trở lại chị đi tìm chồng và đón anh trở về nhà để chăm nuôi. Anh chị có ba người con. Các con đều ngoan ngoãn, học hành thành đạt. Chị là người "ra đi" sớm nhất không được hưởng thành quả cuộc sống mà chị đã vun trồng cả đời.

 Dưới con mắt nhà phê bình "xã hội học dung tục" thì chắc chắn chị sẽ bị phê phán về lòng yêu nước, về quan điểm lập trường nọ kia nhưng đấy lại là chi tiế có sức thuyết phục người đọc ở sự chân thật và giàu tính nhân văn, chỉ có "dinh tê" chị mới giữ được mình. Chỉ có dinh tê chị mới buôn bán kiếm tiền đủ gửi ra vùng tự do nuôi sống gia đình nhà chồng. Trần Như Đắc chỉ đưa ra chi tiết nhưng không hề phân tích, bình phẩm thêm, nhờ vậy văn ông thâm trầm kín đáo gợi mở và ám ảnh. Văn ông mộc mạc, giản dị và trong sáng để người đọc có cảm tưởng ông không làm văn mà chỉ là đời thực được ông bộc bạch giãi bày tâm trạng. Truyện của ông đều có kết cấu chặt chẽ như cuộc sống vốn thế. Không thấy có bàn tay kỹ thuật của người viết nhúng vào đã giúp cho cây bút truyện ngắn Trần Như Đắc thành công và được khẳng định.

Điển hình là hai lối bố cục truyện khác nhau: Truyện "Làng Mực" được anh kết cấu theo trục hoành. Các tuyến truyện tuyến nhân vật đều dàn hàng ngang đan xen nhau một cách hài hòa hợp lý, chuyện diễn ra như cuộc sống vốn thế. Có sống động, có ồn ào, có sâu lắng cứ từng lớp, từng lớp thực hiện được phô bày. Lối kết cấu này nếu viết vụng sẽ bị khiên cưỡng, kỹ thuật cứng nhắc.

Truyện "Chị tôi ở phố Hòe Nhai" lại được tác giả kết cấu theo trục tung. Một thiên truyện ngắn, số trang ít nhưng diễn biến câu chuyện lại dài ba bốn chục năm trời. Lối kết cấu này dễ làm nhạt câu chuyện. Nhưng ở cả hai lối cấu trúc trên Trần Như Đắc đều thành công, làm cho các thiên truyện đều giản dị, trong sáng với độ dài ngắn hợp lý, không có cảm giác bề bộn rối rắm hoặc sơ lược, dễ dãi.

"Một thời lính" sẽ là một đóng góp của Trần Như Đắc vào phong trào truyện ngắn và ký ViệtNamđương đại. Tập truyện hầu hết viết về người lính nhưng vẫn toát lên hơi thở cuộc sống nông thôn đương đại mà trong đó có tác động không nhỏ bàn tay tâm trí của những người lính trở về từ những chiến trường năm xưa.

                                                                                                                                                   N.H.N

 

Ước mơ xuân

Tôi gọi là ước mơ xuân vì đó là ước mơ vào đời của tôi. Cô bạn Kim thì có vẻ không hài lòng lắm, nó bảo: "Trai thời loạn... Nay đang hòa bình, mà lại mơ thành chiến sĩ, dở hơi!". Tên là Kim có khác, cái gì cũng châm chọc được. Kim ơi, mình biết cậu tiếc cho sức học của mình. Cậu thường bảo: "Học giỏi như Hải, nên thi vào đại học Tài chính, không thì Y hay Luật cũng được, vào bộ đội nó phí đi".

Ồ đúng là cô bạn chẳng hiểu tý gì về người bộ đội hôm nay cả. Từ lâu tôi đã mê cái dáng vẻ nhanh nhẹn và cứng rắn của anh bộ đội. Nhìn những thân hình trai tráng khỏe mạnh trong bộ quân phục, tôi thấy như trong họ tiềm ẩn một sức mạnh lạ kỳ, nhất là những chàng sĩ quan trẻ, gương mặt họ toát lên vẻ thông minh, hóm hỉnh đáng yêu. Tôi có một anh trai và một anh rể là bộ đội, tôi rất quý mến, tuy rằng các anh thỉnh thoảng mới được ghé qua nhà. Anh Sơn nói với tôi: "Nếu có nguyện vọng vào bộ đội trở thành sĩ quan cũng được. Nhưng nên nhớ sĩ quan bây giờ tiêu chuẩn cũng cao lắm, phải có đủ ba bằng: Bằng đại học, bằng Chính trị và bằng ngoại ngữ nữa...". Tôi biết vậy và chính vì vậy mới mơ ước...

Tôi đi khám sức khỏe, chiều cao thì có thừa, vì tôi đã được mệnh danh là "Hải sếu", nhưng chính cái chiều cao 1,7m của tôi lại làm "Pi-nhê" bị tụt xuống. Còn cân nặng thì quả là gay go, được có 43kg. Thế là phải nhờ đến "sức" của bố, chẳng phải bố tôi có quen Thành đội trưởng, ông thuyết phục: "Chiều cao mới khó chứ còn cân nặng thì chỉ cần bồi dưỡng cho cu cậu một thời gian là lên cân ngay, anh đừng ngại".

Thành đội trưởng cũng khó xử, bởi đợt tuyển quân này người xin đi thì nhiều mà người xin miễn hoãn lại ít. Bây giờ yêu cầu văn hóa lại khá cao, phải tốt nghiệp phổ thông trung học, không đủ mới lấy xuống lớp 10, lớp 11 vì thế nên tôi đã trúng tuyển.

Kim giận. Có lẽ cô nàng cho là tôi không chịu nghe lời khuyên chân tình. Kim và tôi thân nhau từ hồi lớp 10. Đó là một cô gái đáo để, chẳng chịu thua kém ai cái gì, nhưng lại cũng rất tình cảm. Nó thường tâm sự với tôi, sau này sẽ thi vào đại học Báo chí trở thành phóng viên để được đi đây đi đó. Nó rất phục sức học của tôi và còn vạch cho tôi một tương lai theo trí tưởng tượng của nó: "Cậu phải trở thành một tiến sĩ Kinh tế, đem hiểu biết của mình góp phần làm cho nền kinh tế của đất nước phát triển mạnh lên nữa, không thì cậu sẽ trở thành Luật sư, luật pháp bây giờ cũng quan trọng lắm, không có luật, xã hội cũng sẽ không phát triển đúng quỹ đạo được. Cậu có thể làm tư vấn pháp lý cho các công ty hoặc không thì nghiên cứu Luật Quốc tế, luật Thương mại giúp các nhà đầu từ...".

Viễn cảnh của Kim vạch ra cũng đẹp lắm. Nhưng không hiểu sao, có một sức mạnh khác cứ hút tôi về với "ngành" quân sự. Tôi biết vào quân đội là vất vả lắm, dù có là một kỹ sư quân sự thì việc đầu tiên vẫn phải rèn luyện như một người lính trước đã. Rồi còn bao nhiêu cái ràng buộc, kỷ luật nghiêm không thể tự do thoải mái như một anh trí thức dân sự. Đồng lương dù có khá hơn cái thời ông bố đi bộ đội, nhưng đó vẫn chỉ là lương, không có ai đi bộ đội mà giàu được.

Nhưng rồi tình bạn vẫn cứ là tình bạn. Kim vẫn đến với tôi vào chiều 29 tết. Thì ra những ngày qua cô nàng còn làm quen cả với một anh chàng thượng úy trẻ tuổi nữa. Kim thú nhận với tôi: "Nói thật trước đây mình cũng hơi ác cảm với mấy "chú bộ đội". Chả là một hôm, Kim cùng với mấy đứa bạn gái đi chợ, có gặp mấy chàng lính trẻ, bọn Kim đã cố tình nép vào một chỗ để chờ họ đi qua, thế mà mấy anh chàng không biết ý, quây lấy bọn Kim mà trêu ghẹo. Kim và mấy cô bạn ngượng chín cả mặt, cuối cùng Kim đành phải giở "món võ" đáo để của mình mới rút lui được. Còn bây giờ chàng thượng úy mới quen của Kim lại rất ga lăng mà cũng rất giản dị, anh đã tốt nghiệp Đại học kỹ thuật Quân sự, đang là kỹ sư, trợ lý Kỹ thuật của một đơn vị pháo. Kim quen Lượng cũng rất tình cờ.

Nhân dịp ngày rằm, Kim theo mẹ lên lễ đền Hùng. Vào đến đền Giếng, nơi thờ hai công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa thì gặp một "ông Tây du lịch". Tự nhiên mấy từ Anh ngữ học được ở trường cứ muốn bật ra thành lời. Thế là Kim nói luôn: "Good morning!" ông Tây vui vẻ chào lại, Kim ra vẻ thành thạo nói tiếp: "Are you from England?" (Anh từ nước Anh đến phải không?) - "I'm from Canada" (Tôi từ Ca -na -da tới". Kim thấy vốn từ vựng của mình có hạn nên định rút lui nhưng không kịp nữa rồi. Người thanh niên Ca - na - da rất vui mừng thấy một thiếu nữ bắt chuyện liền nắm chặt lấy tay Kim. Chàng ta phát ra một tràng tiếng Anh mà Kim chỉ loáng thoáng hiểu được. Anh ta muốn biết lịch sử ngôi đền Giếng mà họ đang viếng thăm. Kim đỏ mặt chưa biết trả lời ra sao, cô đình tìm từ xin lỗi để cáo lui. Thật bất ngờ, đúng lúc ấy, một chàng sĩ quan còn trẻ đeo quân hàm Thượng úy đứng đằng sau Kim từ lúc nào. Anh lịch sự chào người bạn ngoại quốc và với một vẻ tự tin, bằng tiếng Anh kể lại rất tài tình và lưu loát sự tích ngôi đền cùng với truyền thuyết về hai nàng công chúa con của vua Hùng. Chàng trai Ca-na-da vô cùng thích thú lắng nghe và ghi chép.

Từ đó, Kim và thượng úy Lượng quen nhau. Kể cho tôi nghe lại chuyện đó với đầy vẻ thán phục, Kim kết thúc: "Thôi được, cậu vào quân đội, nhưng vẫn phải tiếp tục học tấp đấy nhé. Phải trở thành kỹ sư - sĩ quan hẳn hoi". Tôi đùa lại: "Nhất định rồi, tớ sẽ phấn đấu trở thành Tướng". Kim nghiêm nét mặt: "Tớ nói nghiêm chỉnh đấy, hai đứa phải cược với nhau đấy!"

Tôi thấy vui thật sự vì người bạn gái thân nhất đã hiểu được mơ ước của mình. Chỉ còn ít ngày nữa sẽ đến ngày lên đường. Tôi sẽ trở thành một người lính, tôi sẽ thể hiện quyết tâm của mình ngay từ ngày huấn luyện đầu tiên. Người ta bảo khi kiểm tra bắn song, ai bắn trúng cả ba viên vào vòng 10 thì được thưởng. Nếu vậy tôi sẽ cố gắng để giành lấy ba vòng mười quý giá để về nói chuyện với Kim.

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=280410

1 2 3 4  Sau»