|
TA P SAN VĂN NGHỆ VÂN SƠN SỐ 1
|
|
RAU DIẾP DẠI Truyện ngắn của Cầm Sơn
Xóm Vắng cách biệt với thị trấn phố huyện bằng một dòng sông, gọi là sông nhưng mùa cạn vẫn có thể lội qua được, đằng sau xóm là núi và rừng nên mặc dù không xa phố huyện là bao nhưng dân trong xóm rất ít các mối quan hệ giao du, vậy mới gọi là xóm Vắng. Phần lớn trẻ con xóm Vắng chỉ học hết cấp một sau đó ở nhà phụ giúp bố mẹ làm gạch. Cả xóm Vắng gần như nhà nào cũng có lò gạch, khói lò lơ lửng mù trời, khí than tanh nồng, khét lẹt ngày đêm tràn sang cả phố huyện. Mười một tuổi, Thương đã phải sang bên thị trấn để học bởi xóm Vắng không có trường cấp hai. Cũng may là được Dũng cùng đi, Dũng học trước Thương Hai lớp. Hôm nào Dũng cũng chờ ở bến để giúp Thương lội qua sông. Khổ nhất là những ngày mưa lũ không lội được sông, phải đi bộ ba cây số mới có cầu qua bên thị trấn. Nhà Thương chỉ có hai mẹ con, từ khi Thương lên thị trấn học , bà Hà lại càng thêm vất vả, dáng người đã nhỏ càng thêm quắt queo dưới sức nặng của đôi quang xếp đầy gạch gánh vào lò hoặc ngược lại. Tuy vậy, bà vẫn nhất quyết cho Thương đi học. Có lẽ do thương cảm với hoàn cảnh của bà, chủ nhiệm Hợp tác xã thủ công Thanh Vân là ông Thêm bàn với Ban chủ nhiệm cử bà ra bến sông làm người chở đò, với lý do rằng: những ngày mưa, nước sông sâu hoặc mùa đông rét mướt, xóm vẫn cần có một con đò. Thế là từ đấy, mẹ con Thương được bố trí một miếng đất cạnh bến sông để làm túp lều ở gần bến đò cho tiện. Tuy nhiên, những ngày nắng ráo, nước sông cạn, người xóm Vắng vẫn cứ lội chứ không cần đò của mẹ Thương. Bà Hà mở thêm một quán nước dưới gốc gạo để có thêm thu nhập. Cứ tùng tiệm, chắp nhặt như vậy, bà vẫn nuôi được Thương đi học. Nhà mẹ con Thương nhìn thẳng ra sông, cứ mỗi dịp xuân về, hoa rau diếp dại đua nhau nở vàng rực soi đất ven sông, để rồi đến cuối xuân lại đổi sắc khoe mình bằng tấm áo bông mây trắng muốt. Những sợi bông li ti bồng bềnh nhẹ bẫng chở theo hạt mầm bung lên xoay tròn bay theo gió rồi nhẹ nhàng như những thiên thần hạ cánh xuống dòng sông. Dòng nước lãng du cứ chảy vô tư trên sông không bao giờ quay lại, còn những thiên thần thì không thể đi theo hành trình của dòng nước mãi, chúng đậu dần vào bờ để nhận hơi ấm của đất mẹ mà bật mầm sinh xôi ra một thế hệ mới. Những buổi tan trường, Dũng thường ghé vào nhà Thương rồi cùng xuống bãi soi tha thẩn, khi thì hái một nắm rau về nấu ăn làm thuốc giải nhiệt, giải độc, khi thì xuống suối tìm những viên cuội tròn trắng bóng mang về làm chặn giấy và tặng bạn bè, khi thì hái hoa diếp dại thổi mạnh cho cánh bông tung lên để rồi chúng lại nhẹ nhàng đậu xuống mặt sông. Thế rồi, thời gian cũng vô tư lãng tử như nước dòng sông chở những mùa hoa diếp dại qua đi. Dũng học hết phổ thông thi đậu vào trường Đại học Xây Dựng. Chỉ hai năm sau, Thương cũng thi đậu khoa kế toán trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Hai trường ở gần nhau, họ lại có dịp qua lại, thăm hỏi, động viên, chăm sóc nhau. Rồi họ yêu nhau, khi người ta yêu nhau thì trong mắt họ chân trời phía trước ngập tràn xanh hy vọng, vàng rực như màu hoa rau diếp dại trên soi đất ven sông trước cừa nhà khi mùa xuân đến. Lúc Thương ra trường thì Dũng đã thôi không làm việc ở công ty Quốc doanh để về giữ chân Phó giám đốc cho Công ty của ông chú họ đang làm ăn phát đạt. “ Cuộc tình duyên ban đầu, mấy ai may mắn chung nhịp cầu..”.Lời bài ca buồn thế mà hình như ai đi qua nhịp cầu ấy cũng đều thấy đúng. Khi Dũng đặt vấn đề hôn nhân với Thương thì bị gia đình phản đối, gay gắt nhất là bà mẹ Dũng. Mẹ Dũng bảo “ Con bé ấy là đứa không cha, không thể về làm dâu trưởng của họ tộc nhà này được!”. Thực ra thì Thương cũng có bố, bố Thương tên Liên, khi chưa kịp làm đám cưới với mẹ Thương thì Liên lên đường nhập ngũ. Lúc làm giấy khai sinh, Liên gửi thư về xác nhận đứa bé là con mình và yêu cầu đặt tên là Thương, rồi Liên đã chìm vào cõi vĩnh hằng trên mảnh đất phía Tây – Nam nơi tận cùng tổ Quốc. Thương choáng váng vùi đầu vào đống chăn, úp măt trên gối mất mấy ngày. Bà Hà đi ra đi vào ngơ ngác. Khi đã vượt qua giới hạn của sự khổ đau thì tự nhiên người ta trở nên tỉnh táo. Nhìn mẹ bần thần như người mất hồn, nhiều khi ngồi im bất động tựa một pho tượng, Thương càng thấy thương mẹ nhiều. Những lần Dũng qua nhà, Thương tránh mặt không gặp. Thương nói với mẹ: - Mẹ con ta sẽ khó mà ở lại được nơi này, con phải đi. Vài năm sau nhất quyết con sẽ về đón mẹ cùng đi. - Không đâu con, để từ từ rồi mẹ tính. - Tính toán gì mẹ, con đã quyết rồi! Hôm sau, Thương ra đi gửi lại cho Dũng bức thư chỉ mấy dòng chữ: “ Anh Dũng! Em biết là anh rất yêu em và em cũng yêu anh. Nhưng cái duyên là do Trời định, Trời không cho chúng mình được sống cùng nhau. Đừng trách mẹ anh, mẹ anh đã rất đúng khi mai này anh sẽ là tộc trưởng một dòng họ. Hãy coi em như con bé Thương ngày nào cùng lội sông đi học. Đừng lo cho em và cũng đừng nghĩ đến em nữa. Em đã ra đi như một giọt nước trong dòng chảy của con sông, sẽ chẳng bao giờ quay lại đâu anh. Cầu mong anh hạnh phúc!” Dũng cho rằng với cái bằng Đại học kế toán, Thương tìm đâu mà chả có việc. Chắc chắn Thương chỉ ở quanh quẩn đâu đây. Anh chạy đôn chạy đáo, tìm kiếm khắp nơi, gần như lục tung tất cả thành phố Hà Nội. Đến nhà mẹ Thương không biết, bạn bè người thân cũng không ai biết. Vất vưởng mất nửa năm trời mà tin tức về Thương cứ “bặt vô âm tín”. Rồi anh lại thấy giận Thương, người gì mà gỗ đá vô tình. Đúng là giọt nước giữa dòng sông không bao giờ trở lại. Và rồi thì mẹ Dũng cũng cưới được vợ cho con mình. Hồng, con gái một gia đình buôn bán nhỏ bên phố huyện, ngày trước khi học phổ thông cũng cùng lớp với Thương. Mẹ Hồng và mẹ Dũng thường cùng đi chùa, đi hát cầu kinh với nhau trong các đám hiếu ở hội các vãi, hai bà thân nhau rồi gán ghép con cái cho nhau, Dũng cũng biết Hồng nhưng chỉ sơ sơ. Từ ngày Thương bỏ đi biệt tích, anh chỉ biết chúi đầu vào những công trình xây dựng, chỉ biết công ty của chú cháu anh cứ làm ăn phát đạt, vững vàng. Rồi anh cho rằng lấy vợ lập gia đình cũng là một việc, nay không phải khó nhọc gì lại được hai gia đình vun vén thì anh cũng đồng ý, coi như hoàn thành một công trình. Còn Hồng thì học cùng Thương, người lớp dưới bao giờ cũng biết người học lớp trên hơn. Dũng học giỏi, to cao đẹp trai, bây giờ lại làm ăn thành đạt, có người chồng như thế thì còn phải lo gì. Đám cưới của họ được hai gia đình tổ chức rất to, rất hoành tráng, nổi đình nổi đám ở cái phố huyện miền núi xa xôi. Sau khi bé Hải Anh ra đời, Hồng yêu cầu Dũng mua nhà về Thành phố cho tiện sinh hoạt vì công trình của Dũng đa phần là ở Thành phố. Dũng bảo: “ Việc gia đình, em muốn làm gì thì làm. Anh chỉ biết những công trình xây dựng, còn mua nhà ở nơi nào thì tiền đấy, tùy em!” Hồng ăn nhập với nhịp sống của Thành phố rất nhanh, chỉ trong ba năm trời ở Thành phố, Hồng đã hút phần lớn hoạt động của công ty chú cháu Dũng vào vòng xoáy cơn lốc buôn bán bất động sản. Ông chú Dũng giao tất cả cho Hồng toàn quyền trên sàn giao dịch. Hoạt động của cô không chỉ dừng lại ở Hà Nội mà còn vươn lên cả Hà Tây, Bắc Ninh, Hưng Yên... Tên tuổi Công ty gắn với tên Hồng Lém danh nổi như cồn. Nhưng ngược chiều với sự nổi tiếng của Hồng là cái gia đình của cô càng ngày càng rạn nứt. Dũng không thể bằng lòng với những mối quan hệ mờ ám và cách làm việc theo kiểu chộp giật, lừa đảo của Hồng, còn Hồng thì cho rằng Dũng vẫn chỉ là anh chàng nhà quê cù lần bảo thủ. Quan niệm của cô trong gia đình ai là người làm ra nhiều tiền thì người ấy có quyền quyết định cao hơn. Dũng đi về như một cái bóng, nhiều khi anh uống rượu say rồi ngủ luôn lại công trường. Thế rồi việc gì đến sẽ đến. Ngân hàng xiết chặt tín dụng, giao dịch bất động sản đóng băng. Hồng lộ rõ là một con nợ lớn không những ở các Ngân Hàng mà còn nợ ngoài khu vực tín dụng đen lên đến hơn trăm tỷ đồng. Có điều mọi giao dịch Hồng đều lấy tên và con dấu của công ty chú cháu Dũng. Hồng đâm đơn ra tòa đòi ly dị, Dũng ký ngay không chần chừ. Tòa án xử ly hôn. Hồng mang con trốn đi biệt tích để lại cho chú cháu Dũng một món nợ kếch xù. Không nhà cửa, không gia đình, công ty phá sản, may mà chỉ là án dân sự không bị bỏ tù. Dũng quay trở về nhà với hai bàn tay trắng. Xóm Vắng bây giờ, tuy lò gạch của các gia đình có to hơn, tiến bộ hơn xưa nhưng vẫn là đốt gạch thủ công. Tới đây, nhà nước sẽ cấm hẳn việc sản xuất gạch bằng đốt lò thủ công vì sự cần thiết về bảo vệ môi trường. Phải xây dựng một nhà máy gạch Tuy-nen, điều ấy hẳn đã rõ, nhưng anh không có vốn. Kêu gọi đầu tư, ai dám tin anh nữa? mà dẫu có nhà máy gạch thì cũng không thể thu hút đủ nhu cầu lao động cho xóm Vắng. Vậy dân xóm anh sẽ làm gì...? Ngày ngày anh ra bến sông. Bến sông bây giờ đã có cây cầu. Ô tô, xe máy chạy thẳng sang thị trấn chẳng còn ai cần con đò và cái quán của bà Hà nữa. Bà Hà có tiền của Thương gửi về, nó dặn để bà tĩnh dưỡng tuổi già, bà tằn tiện gom góp xây một ngôi nhà nhỏ vào phía trong vườn nhưng hướng nhà vẫn nhìn ra sông. Nhiều người mát mẻ là bà có con gái đi làm ở công ty ‘Giầy da” nên mới có tiền để xây nhà. Bà bịt tai như không nghe thấy, vui thú với mảnh vườn và đàn vịt cũng đủ sinh nhai. Rau diếp dại bây giờ không còn mọc hoang dại, nó đã được chính thức coi như một loài rau trồng, vừa làm món ăn, vừa dùng để làm thuốc chữa bệnh, bà Hà sửa lại bãi soi ven sông trồng thành hàng thành luống. Chỉ ngần ấy việc cũng đủ bận bịu cả ngày. Ai thân thiện, thông cảm thì đến chơi, còn bà rất ít đi vào trong xóm. Từ ngày Dũng về, nhà bà lại đâm ra vui, Dũng thường đến nhà giúp bà cuốc mảnh vườn, lợp lại mái chuồng vịt, có khi còn đi chợ rồi ở lại ăn cơm với bà. Những lần Dũng hỏi về Thương, bà bảo bà cũng chẳng biết nó ở nơi nào, thỉnh thoảng nó gửi tiền về, đều qua con Nguyệt, muốn nhắn gì cho nó thì cũng lại phải là con Nguyệt. Những hôm đến nhà bà Hà không có việc gì, Dũng lại xuống bãi soi, xuống sông nhặt cuội. Nước sông vẫn cần cù đêm ngày mải miết chảy xuôi mà con đường phía trước sao cứ mông lung, hun hút.
Sau khi tạm biệt mẹ, Thương về Hà Nội ở hai tháng để làm thủ tục với một công ty xuất khẩu lao động rồi cô sang Hàn Quốc. Với tấm bằng Đại học kế toán lại thông thạo tiếng Anh, cô mau chóng hòa nhập với môi trường nước ngoài và cũng nhanh chóng được công ty mà cô ký hợp đồng lao động trọng dụng. Công ty Thương làm việc là một công ty trong ngành may mặc và sản xuất chăn, ga, gối, đệm nằm trong một tập đoàn công nghiệp. Cô được làm việc dưới quyền giám đốc tài chính Park Yuong Min, một chàng trai điềm đạm, thông minh, tốt nghiệp Đại học tại Singapo, hiểu biết rộng, quan hệ rộng và là con trai của chủ tịch tập đoàn. Chẳng mấy chốc mà thời hạn ký hợp đồng năm năm sắp hết. Yong Min chính thức cầu hôn với Thương. Trong mấy năm làm việc, Thương cũng biết là anh có cảm tình với mình và đúng là một lời cầu hôn trân trọng. Nhưng cô nói cô còn có mẹ già và cô không thể sống xa quê mãi được. Yong Min mời Thương ký tiếp hợp đồng, Thương nói với Yong Min là để về nước đã, sẽ trả lời sau, có thể cô sẽ ở lại quê để xây dựng một xưởng may và làm chăn, ga, gối, đệm giải quyết việc làm cho dân xóm Vắng quê cô. Cô rất cám ơn vì trong thời gian làm việc ở đây cô đã học được rất nhiều. Yong Min buồn, thất vọng. Nhưng là người có học thức nên anh hứa sẽ gúp đỡ, hợp tác, nếu Thương quyết định ở lại quê hương thành lập xưởng may.
Đêm qua, Nguyệt gọi cho Thương, Nguyệt là người bạn thân của Thương từ khi còn học phổ thông. Tất cả những bước đi của Dũng, Thương vẫn nhận được thông tin đều đặn từ Nguyệt. Thương đã thấy yên lòng khi Dũng lấy vợ rồi có con, nhưng cú phôn của Nguyệt đêm qua đã làm Thương bồn chồn. Không biết rồi Dũng sẽ đi đến đâu. Đã từng yêu nhau, Thương biết tuy giỏi giang nhưng Dũng không phải là người có cá tính mạnh, thậm chí còn yếu mềm, rất dễ động lòng trắc ẩn. Những người như thế, đứng trước đoạn cuối của con đường cụt, họ rất dễ nảy ra những ý nghĩ cực đoan...
Chiếc Taxi chạy thẳng qua cầu rồi đỗ trước cổng nhà bà Hà. Bước từ xe xuống là một phụ nữ tuổi trạc ba mươi vừa có nét duyên dáng xinh tươi của thiếu nữ, vừa có dáng vẻ đĩnh đạc, nền nã của một thiếu phụ. Anh lái xe Taxi mở cốp giúp người phụ nữ mang đồ vào nhà. Bà Hà sững người một lúc mới nhận ra con gái mình. Bà ôm lấy Thương xoa vuốt, nắn bóp chân tay. Ôi, con gái mẹ! Mày ở nơi nào để mẹ ngày đêm hoang hoải mỏi mòn trông ngóng. Mày có biết rằng khi mày bỏ đi, mẹ đã từng có ý nghĩ xuống bãi soi gieo mình vào dòng nước cho tâm hồn thanh thản, để không còn phải chịu những nỗi đau và sự nhục nhã ê chề ẩn ức đeo bám suốt cả cuộc đời, chỉ vì không biết mày ra sao nên mẹ phải nhắm mắt vào để sống, để chờ mày về. Bây giờ mày về đây, ở hẳn ở nhà hay rồi mày lại ra đi. Mày đi đâu thì đi, còn mẹ, mẹ không đi đâu cả. Cay chua ngọt đắng ở đất này suốt một đời rồi, mẹ sẽ về cùng với tổ tiên ở mảnh đất này thôi. Chiếc xe Taxi đi rồi, bà Hà bảo Thương: - Dũng vẫn thường xuyên đến đây với mẹ, bây giờ nó đang ở dưới sông ấy, con cũng nên xuống đấy với nó một lát. Dũng ngồi một mình nhìn ra phía dòng sông, anh nhặt những hòn cuội trắng đen lẫn lộn xếp chồng lên nhau như một Kim Tự Tháp. Thương lại gần đứng phía sau anh. Người ta bảo có giác quan thứ sáu. Có lẽ đúng! Chiếc xe Taxi chạy vọt qua cầu cùng với mùi nước hoa đắt tiền phảng phất phía sau đã cho Dũng hiểu đang xảy ra điều gì. Dũng không quay lại. Anh nhỏ nhẹ như nói với dòng sông hay là đang nói với chính mình: - Dũng vẫn đinh ninh rằng, trong vô vàn giọt nước theo dòng chảy xuôi, ít nhất cũng có một giọt theo mưa về nguồn quay trở lại với dòng sông để chở những cánh hoa diếp dại.
Thương quyết định ở lại quê làm đám cưới. Sau đó sẽ cùng Dũng xây dựng nhà máy gạch Tuy- nen và thành lập xưởng may. Bây giờ thì mẹ Dũng không còn gì để phản đối nữa. Nhưng bà Hà thì lại đi ra đi vào, đêm nằm bà trằn trọc không yên giấc. Thương cứ tưởng mình đã quyết định đúng, mẹ phải vui chứ. Thương gạn hỏi, bà bảo Thương rằng bà không vui thì còn có gì vui hơn được nữa, bà nghĩ là nghĩ việc khác, không thể trao đổi với Thương. Đời người đàn bà sao mà lắm éo le, trắc trở. Hình như các cụ ngày xưa chẳng sai tý nào khi thốt ra để bây giờ trở thành một câu ngạn ngữ: “ Thân em như hạt mưa rào, hạt sa xuống giếng, hạt vào vườn hoa” Ngày ấy, Hà và Liên cùng trang lứa, cùng sinh hoạt một chi đoàn thanh niên xóm Vắng. Liên là một trong những thanh niên hiếm hoi của xóm Vắng được học hết lớp mười. Chẳng hiểu vì sao anh không đi học tiếp lên Đại học mà lại ở nhà làm xã viên Hợp tác xã thủ công Thanh Vân, suốt ngày trộn đất đóng gạch. Những ngày mưa dầm không phơi được gạch, dân xóm Vắng hoặc vào rừng lấy củi, thu lượm thuốc Nam hoặc xuống sông kiếm con tôm con cá. Bố Liên là ông Lang làm thuốc chữa bệnh bằng cả cây thuốc Nam lẫn vị thuốc Bắc, vì thế nên Hà hay đi cùng Liên xuống bãi soi đào rau diếp dại lấy cả thân cả rễ xuống sông rửa sạch mang về để bố Liên thái nhỏ phơi khô làm thuốc chữa đau dạ dày. Liên giải thích với Hà việc Liên không thi Đại học là do Liên đi thi chắc gì đã đỗ, nhưng quan trọng hơn là nếu có đỗ Đại học thì nhà Liên nghèo, Liên thương bố mẹ. Thôi thì ở nhà vừa làm gạch, vừa học lấy cái nghề thuốc gia truyền. Nếu có cơ hội sẽ mở lò gạch hiện đại hơn, tiên tiến hơn. Ở nước ngoài người ta đã sử dụng dây truyền liên hoàn khép kín, đổ đất vào đầu này, gạch chạy ra đầu kia, họ sử dụng nhiệt nung bằng điện, bằng khí ga không bẩn thỉu và ô nhiễm như ở ta. Cũng có khi hai người chỉ xuống bãi soi người búng đàn, người tập hát những bài ca mới. Trời cho Hà cái nước da trắng mịn, thân hình thon thả và giọng hát trong ngần đắm đuối. Những buổi sinh hoạt chi đoàn hoặc xã tổ chức văn nghệ thì giọng ca của Hà lại cất lên: “Bèo dạt mây í ì trôi..chốn xa khơi...” hoặc “ Em đi cắt lúa trên ngàn, còn anh chiến đấu xa tràng...”... cùng tiếng đệm Tây Ban Cầm bập bùng trên tay Liên làm cho không khí nổi đình nổi đám. Tiếng đàn đã hợp với giọng hát thì đôi mắt trao duyên, đôi lòng tương ngộ. Giá mà gió cứ thổi, nước cứ trôi, hoa diếp dại cứ nở đúng mùa thì đâu đến nỗi... Hà được chủ nhiệm Hợp tác xã phân công lên làm thư ký Ban chủ nhiệm. Phải tiếp khách, phải trực đêm... Và rồi...Cái bụng của Hà ngày cứ một phồng to lên. Chi đoàn thanh niên, tổ đội Hợp tác kiểm điểm lên kiểm điểm xuống, Hà chẳng khai cho ai. Mọi con mắt đổ dồn về phía Liên. Liên không chịu được những con mắt soi mói như cấu da cấu thịt và sự giằng xé chính trong lòng mình đã làm đơn xin bằng được nhập ngũ. Và anh đã ra đi như giọt nước trong dòng chảy con sông về phía hạ lưu để ra biển cả... Trước đám cưới hai hôm, bà Hà quyết định sang nhà ông Thêm. Sau khi theo yêu cầu của bà, ông Thêm cho mời bà Thêm cùng lên nhà nói chuyện, Bà Hà rành rọt từng câu: - Thưa ông bà, lẽ ra việc này tôi đã phải thưa với ông bà từ năm năm trước. Nhưng chưa kịp sang nhà thì cháu Thương đã bỏ đi. Ông Thêm đây mới đích thực là cha đẻ cháu Thương. Trước kia, ông còn làm chủ nhiệm Hợp tác xã nên tôi đã phải cố nhịn để giấu cho ông. Ông Liên chẳng qua thương tôi mà nhận cháu là con, thế nên ông ấy mới đặt tên cháu là Thương. Nay ông Thêm cũng nghỉ lâu rồi, thời thế đã thay đổi, cũng chẳng cần giấu diếm làm gì. Mấy hôm nữa cháu nó đi lấy chồng, xin phép bà cho ông Thêm sang nhà tôi đứng ra làm đám cưới cho cháu, cho nó có bố, khỏi tủi thân. Bà Thêm nhìn sang ông Thêm, ông Thêm nhìn bà Hà, bà Hà cúi đầu im lặng. Không gian chìm xuống. Sự im lặng tưởng như kéo dài cả một đời người. Ở đời, nhiều khi có những việc tưởng chừng to tát như vỡ đê, lửa cháy nhưng khi xảy ra thì lại êm đẹp, nhẹ nhàng. Bà Thêm chậm dãi: - Thế nào, có đúng vậy không ông? Ông Thêm cũng nhỏ nhẹ, mắt vẫn nhìn sang bà Hà như thể là đang nói với chính mình: - Bạc đầu cả rồi, chắc là bà Hà chẳng thể nói sai! Bà Thêm quay sang bà Hà, cất giọng to hơn và rành rẽ như một lời phán quyết: - Thế này bà ạ, đây mới là nhà ông Thêm, vậy nên ông Thêm không thể sang bên ấy. Cháu Thương đã là con ông Thêm thì cũng là con tôi. Bà phải đưa cháu sang bên này để tôi và ông Thương cùng bà làm đám cưới cho cháu! Ngay chiều nay tôi sẽ cho biến báo với họ hàng và dựng rạp. Bà về bảo cháu chuẩn bị rồi tối đưa cháu về bên này ngay nhé!
Về nhà không thấy Thương, bà Hà ra vườn nhìn xuồng dòng sông. Thương và Dũng đang ở dưới bãi soi đào các phẫu diện lấy mẫu đất để kiểm nghiệm làm dự án xây dựng nhà máy gạch Tuy- nen. Mảnh vườn rau diếp dại lại đang thi nhau trổ hoa vàng rực. Hương sắc mùa xuân đã tràn về đến bến sông xóm Vắng.
Thanh Sơn tháng 11 năm 2011 C.S
|
Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=342914
Bản in



















Có một niềm vui như thế
Nguyễn Anh Đào
Báo Văn nghệ số đặc biệt 18+19 ra ngày 30-4-2011, nhân kỷ niệm ngày giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước đã in truyện ngắn dự thi của tác giả Trần Như Đắc với cái tên ngồ ngộ “Tắm tiên”. Truyện đơn giản, nhưng đậm tính nhân văn. Vẫn giọng văn nhẹ nhàng, lối kể chuyện hồn nhiên, không trau chuốt, ít dùng thủ pháp ẩn dụ mà vẫn làm cho người đọc cảm nhận được ý nghĩa của hình tượng qua từng tính cách nhân vật. Đây là bước đi tiếp của “Chị tôi ở phố Hòe Nhai”, (báo Văn nghệ số đặc biệt kỷ niệm đại lễ nghìn năm Thăng Long – Hà Nội), của “Một thời lính” NXB QĐND mà Trần Như Đắc vừa mang đến cho người đọc dịp đầu xuân Tân Mão.
Nói “tắm tiên”, có người nghĩ đến cảnh các cô gái Thái ở Tây Bắc thả mình trên các dòng suối mát để rồi tò mò, liên tưởng về những xúc cảm bản năng. Nhưng không phải. Trong truyện của Trần Như Đắc, vẫn cảnh tắm tiên, nhưng là cảnh một vị tướng và một anh lính cần vụ hồn nhiên cọ lưng, cọ người cho nhau, rồi cùng ngắm của quý của nhau mà cười.
Cái ông tướng Nông Văn Khờ ấy thích sống hòa vào với thiên nhiên, cùng vào rừng lấy măng, lấy nấm với lính, thích uống rượu nút lá chuối nhắm với măng đắng chấm muối ớt. Ông không nhận quà biếu của cấp dưới, không yêu cầu cần vụ phục dịch, kể cả giặt quần áo. Có chăng, ông chỉ bảo kỳ hộ lưng khi ông tắm, mà tính ông thì thích tắm truồng ở suối. Những lúc ấy, thân hình ông tạc vào không gian như một bức tượng, “thịt da ông nhẵn bóng màu đồng hun”… Một vị tướng như thế, gì mà quân đội ta không hùng mạnh. Đọc “Tắm tiên” của Trần Như Đắc, ta lại nhớ tới Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo, câu: “Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào…”. Đó là tiền đề, là cơ sở để quân dân ta đánh thắng mọi thứ giặc ngoại xâm, dù chúng mạnh đến đâu.
Nhưng người đọc vẫn thấy buồn.
Bên cạnh tướng Khờ dân dã, sống chan hòa với lính thì lại có ông tướng Huy sống quan cách, thích quà biếu của cấp dưới. Mỗi lần về thăm nhà thì thằng Hòa cần vụ lại tất bật lo đóng gói những thứ quà cáp mà người ta biếu thủ trưởng của nó rồi chất đầy cả xe chở đi. Nghe tin ở đơn vị nào bắn được gấu rừng là thủ trưởng Huy cũng tìm cách gợi ý để họ biếu cho cái mật. Một thủ trưởng như tướng Huy, tất phải có một cần vụ như thằng Hòa, xun xoe nịnh hót, tận tụy tăm nước cho thủ trưởng sau mỗi bữa ăn. Và con đường thăng tiến của hắn cũng khác cần vụ của tướng Khờ. Hòa được cất nhắc, cho đi học sĩ quan chỉ huy. Còn “tôi”, cần vụ của tướng Khờ, được thủ trưởng quý mến đã giải quyết theo nguyện vọng, cho về tiểu đoàn Bốn, vì ở đấy “có suối Nách ở bản Dao đẹp lắm, tha hồ mà tắm tiên nhé!”.
Hai vị tướng với hai người lính cần vụ qua truyện ngắn “Tắm tiên” của Trần như Đắc là hai bức tranh đối lập, một sáng, một tối, đáng để người đọc suy ngẫm.
Không được giải gì trong đợt xét giải 5 năm của tỉnh Phú Thọ (2005-2010), mặc dù tác giả có hai tập truyện được in gửi xét. Trong khi đó, mọi người khuân giải về như khuân củi. Tuy có buồn, nhưng Trần Như Đắc không nản. Anh vẫn cặm cụi viết, và viết. Anh khiêm tốn học hỏi những người có kinh nghiệm hơn mình. “Một thời lính” ra mắt bạn đọc, được mọi người đánh giá cao qua cuộc hội thảo vừa rồi đã phần nào động viên anh. Trần Như Đắc quan niệm: Viết là để thể hiện tình cảm của mình trước cuộc sống, chứ phải đâu là để lấy giải.
Trần Như Đắc không có tên trong danh sách hội viên Hội nhà văn, nhưng tuần báo Văn nghệ của Hội trong hai số đặc biệt gần đây đã in hai truyện ngắn của anh, một tác giả tỉnh lẻ, không tên tuổi, không một lần “A lô” với BBT, điều đó thật đáng trân trọng. Không những thế, đó còn là mơ ước của một số nhà văn ngực đeo huy hiệu, nhưng chưa thấy có truyện ngắn nào ra hồn được in trên báo, nhất là báo Văn nghệ.
Báo phát hành ngày 30-4, nhưng ngày 28-3 đã có bán ở quầy bưu điện. Anh Đắc đã mua vài tờ và đem đến tặng tôi một tờ. Trên nét mặt anh lộ rõ sự vui mừng. Đó là cái vui của một bác nông dân cần cù vừa được mùa bội thu, bõ những ngày cuốc cày, mưa nắng.
Xin chia sẻ chân tình cùng tác giả.
N. A. Đ
góp ý
Người viết văn,nghĩ được một truyện tâm đắc để viết là một hạnh phúc,được đăng báo thì thấy sướng vô cùng nhưng được người đọc hiểu rõ những ý tưởng của người viết thì càng vui hơn.Bác Anh Đào là người rất am hiểu ,lại là người rất chân tình nên đã luôn động viên tôi rất đúng lúc,chân thành cảm ơn Bác nhiều.
Viết bởi dactran — 04 May 2011, 14:03
Tắm tiên viết rất gọn nhưng hàm súc đầy ăm ắp phải không bác? Cần gì phải huy hiệu Hội Nhà văn đeo ngực, mua mép xưng danh nọ kia mà vưỡn ra được tác phẩm? Cụ giáo sức khỏe kém vậy mà vẫn để tâm, vẫn viết rất gan ruột về bạn bè đâu cần "mác" nọ, danh kia? Chúc cụ giáo sức khỏe và sáng tạo.
Viết bởi xuân thu — 04 May 2011, 13:27