giới thiệu tập sách MỘT THỜI LÍNH

"Một thời lính" - Tập truyện ngắn của tác giả Trần Như Đắc14.02.2011 16:55

"Một thời lính" - (NXB Quân đội nhân dân - 2011) là tập truyện ngắn hay của tác giả Trần Như Đắc.
Bạn đọc biết tới ông qua các tác phẩm như: "Hậu duệ Lang Liêu " - (Tập truyện ngắn Hội VHNT 2004); "Làng tôi" - (Tập truyện ngắn Hội VHNT Phú Thọ 2006). Nay đã ở độ tuổi gần 70 Trần Như Đắc lại tiếp tục xuất bản tập truyện ngắn "Một thời lính" như để nhớ để tri ân lại kỷ niệm một thời. Là Thượng tá quân đội mang trên mình màu áo xanh người lính Trần Như Đắc đã mang đến cho người đọc những câu chuyện in đậm cuộc sống cũng như tình cảm của người chiến sỹ. Tập truyện "Một thời lính" là những tình cảm những kỷ niệm tha thiết của tác giả giành cho người lính những con người dũng cảm trong thời chiến đầy lạc quan yêu đời năng động trong công cuộc xây dựng kinh tế trong thời bình. Nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn đã có những nhận xét tinh tế giành cho tác phẩm "Một người lính" của Trần Như Đắc: "Văn ông mộc mạc giản dị và trong sáng để người đọc có cảm tưởng ông không viết văn và chỉ là đời thực được ông bộc bạch giãi bày tâm trạng. Truyện của ông đều có kết cấu chặt chẽ như cuộc sống vốn thế. Không thấy có bàn tay kỹ thuật của người viết nhúng vào đã giúp cho cây bút truyện ngắn Trần Như Đắc thành công và được khẳng định".
Website Văn học nghệ thuật Phú Thọ giới thiệu đến bạn đọc bài viết "Đọc sách một thời lính" của nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn và một số tác phẩm tiêu biểu trong tập truyện này.

 

 Đọc sách "Một thời lính"
 NGUYỄN HỮU NHÀN

           Trần Như Đắc là sĩ quan QĐND. Từng làm Viện trưởng một Viện kiểm soát quân sự ở vùng Tây Bắc nay đã về hưu. Mươi năm trước anh thỉnh thoảng qua lại Việt Trì gửi cho chúng tôi một bản thảo truyện ngắn. Truyện anh viết chắc tay cái nào cũng in được gần như không phải biên tập lại. Chúng tôi rủ anh làm đơn để kết nạp vào Hội Văn học Nghệ thuật Vĩnh Phú nay là Hội Phú Thọ.
         Anh là người trầm tính kiệm lời hỏi về mơ ước văn chương thì chỉ cười khì nói "tôi thấy gì thì viết nấy có biết gì về nghệ thuật sáng tác đâu". Nhưng khi đọc truyện ngắn "Làng Mực" thì tôi giật mình thấy anh viết chắc tay quá. Cái Làng Mực gần giống như trăm ngàn làng quê Việt Nam với những con người có tên gọi nôm na như bà Bèo cô Bọt chị Nhuần vợ chồng nhà San - Lực... họ hồn nhiên giản dị vừa hào phóng vừa keo kiệt vừa vị tha vừa xấu tính. Làng hiện ra với bao việc trai sấp gái ngửa nhưng lại đùm bọc cưu mang nhau lúc khó khăn. Làng đang đổi mới từng ngày đang chung lưng đấu cật để sửa sang làng xóm. Làng văn hóa vẫn ngầm chứa trong nó bao chuyện vô văn hóa cái tên làng Mực đã gợi bao nhiêu chuyện tốt xấu trong đó rồi. Thiên truyện giản dị như tác giả bê nguyên si cuộc sống vào đó. Văn chương trong sáng và thiên truyện được kết cấu chặt chẽ không một chi tiết thừa. Anh in hai truyện ngắn "Người hát Văn Cao" ; "Quán cá" được anh em ở Phú Thọ bàn tán ca ngợi nhưng tác giả hai thiên truyện ấy thì chẳng ai nhớ tên vì anh sống kín đáo khép mình ít giao du và ít nói chuyện văn chương. Đọc truyện "Buồn tàn thu" mới thấy dược khả năng khái quát của anh giúp cho thiên truyện đượm chất bi hùng giàu tính nhân văn làm người đọc vừa buồn vừa vui đến trào nước mắt.         
         Đó là truyện của hai chàng trai Hà thành đi kháng chiến chống Pháp. Họ cùng học ở trường Thăng Long. Vào bộ đội lại nhiều lần cùng được đề bạt cùng được kết nạp Đảng. Mạc Lan lên trung đội trưởng thì Bùi Huy phụ trách chính trị trung đội. Mạc Lan lên đại đội trưởng thì Bùi Huy lên chính trị viên trưởng đại đội. Rồi Bùi Huy được lên chính trị viên phó tiểu đoàn. Một cuộc liên hoan văn nghệ của tiểu đoàn mọi người hát vang những ca khúc chính trị thì Mạc Lan lại ôm ghi ta đơn ca bài "Buồn tàn thu" của Văn Cao. Chính trị viên phó tiểu đoàn Bùi Huy bèn chồm lên chỉ mặt Mạc Lan vô chính trị tiểu tư sản hát nhạc vàng làm nhụt chí khí tinh thần bộ đội. Từ đấy Mạc Lan bị quy kết đến nỗi sống thu mình và sinh mệnh chính trị coi như chấm hết. Người ta chuyển anh từ chỉ huy chiến đấu sang công tác quân nhu hậu cần. Anh leo lên đến đại úy thì chững lại rồi giải trừ quân bị bộ đội cho về vườn trong khi Bùi Huy cứ thẳng tiến vùn vụt lên đến hàm trung tướng.

Bài hát "Buồn tàn thu" đã hại cả đời anh. Còn người kia thì nhờ tỏ ra có lập trường quan điểm vững vàng từ khi biết phê phán bài "Buồn tàn thu" được cấp trên chú ý mà tiến bộ vượt bậc.

Rồi cậu con trai út của ông bà Mạc Lan tốt nghiệp đại học muốn ra mắt người yêu với bố mẹ đó là ca sĩ Ngọc Lan. Đến nhà hát ông bà Mạc Lan được con trai mời vào ngồi cạnh ông bà thông gia. Ông Mạc Lan giật mình nhận ra ông thông gia chính là trung tướng Bùi Huy.

Ông Bùi Huy cũng láng máng nhận ra người cùng học và cùng thời chiến đấu ở chiến trường Tây Bắc năm xưa. Qua câu chuyện thấy ông Bùi Huy đã quên hết chuyện cũ. Cuộc đời ông Mạc Lan sau đó ra sao ông không hề hay biết.

Khi Ngọc Lan biểu diễn xong bài "Buồn tàn thu" thì cả khán trường vỗ tay ran lên. Bài hát thật sự hấp dẫn đối với khán giả kể cả ông trung tướng Bùi Huy. Vì ca sĩ hát bài ấy lại chính là con gái nên ông không nén được niềm sung sướng. Ông cùng nhiều người xông lên sân khấu để tặng hoa và ôm hôn chúc mừng Ngọc Lan. Ông Mạc Lan ngồi chết lặng vì chính bài hất ấy đã kìm hãm số phận ông. May trước đỗ vợ ông đã đổi chỗ vào ngồi gần bà thông gia giúp cho ông ngồi cách xa hơn với ông trung tướng. Đó là chị tiết đắt có sức gợi mở. Có thể nói Trần Như Đắc có tài chọn lọc chi tiết đưa vào truyện. Nhờ có nhiều chi tiết điển hình có sức khái quát cao mà người đọc càng thấy thiên truyện thật hơn cả thật. Đời thường ông kiệm lời văn chương thì ông kiệm chữ. Ông chỉ tung ra các chi tiết không bao giờ tán rộng bình phẩm về các chi tiết nên truyện ông luôn giữ được "ý tại ngôn ngoại".

Điển hình nhất là các chi tiết người chị dâu trong chuyện ngắn "chị tôi ở phố Hòe Nhai" của ông mới in trong báo Văn nghệ gần đây. Người chị dâu xinh đẹp nết na nổi tiếng có chồng đi Nam tiến chị từ Hà Nội cùng bố mẹ chồng và các em tản cư ra vùng tự do. Chị mở quán cà phê lấy tiền nuôi gia đình nhà chồng. Chị đẹp pha cà phê lại ngon nên quán của chị lúc nào cũng đông khách. Có nhiều anh bộ đội mê chị thường xuyên kiếm cớ uống cà phê để được chuyện trò với chị. Có anh sĩ quan còn gửi thư tình cho chị. Rồi đột ngột chị cùng người bạn gái "dinh tê" về Hà Nội buôn bán để thường xuyên gửi vàng ra nuôi gia đình nhà chồng. Rồi hòa bình trở lại chị đi tìm chồng và đón anh trở về nhà để chăm nuôi. Anh chị có ba người con. Các con đều ngoan ngoãn học hành thành đạt. Chị là người "ra đi" sớm nhất không được hưởng thành quả cuộc sống mà chị đã vun trồng cả đời.

 Dưới con mắt nhà phê bình "xã hội học dung tục" thì chắc chắn chị sẽ bị phê phán về lòng yêu nước về quan điểm lập trường nọ kia nhưng đấy lại là chi tiế có sức thuyết phục người đọc ở sự chân thật và giàu tính nhân văn chỉ có "dinh tê" chị mới giữ được mình. Chỉ có dinh tê chị mới buôn bán kiếm tiền đủ gửi ra vùng tự do nuôi sống gia đình nhà chồng. Trần Như Đắc chỉ đưa ra chi tiết nhưng không hề phân tích bình phẩm thêm nhờ vậy văn ông thâm trầm kín đáo gợi mở và ám ảnh. Văn ông mộc mạc giản dị và trong sáng để người đọc có cảm tưởng ông không làm văn mà chỉ là đời thực được ông bộc bạch giãi bày tâm trạng. Truyện của ông đều có kết cấu chặt chẽ như cuộc sống vốn thế. Không thấy có bàn tay kỹ thuật của người viết nhúng vào đã giúp cho cây bút truyện ngắn Trần Như Đắc thành công và được khẳng định.

Điển hình là hai lối bố cục truyện khác nhau: Truyện "Làng Mực" được anh kết cấu theo trục hoành. Các tuyến truyện tuyến nhân vật đều dàn hàng ngang đan xen nhau một cách hài hòa hợp lý chuyện diễn ra như cuộc sống vốn thế. Có sống động có ồn ào có sâu lắng cứ từng lớp từng lớp thực hiện được phô bày. Lối kết cấu này nếu viết vụng sẽ bị khiên cưỡng kỹ thuật cứng nhắc.

Truyện "Chị tôi ở phố Hòe Nhai" lại được tác giả kết cấu theo trục tung. Một thiên truyện ngắn số trang ít nhưng diễn biến câu chuyện lại dài ba bốn chục năm trời. Lối kết cấu này dễ làm nhạt câu chuyện. Nhưng ở cả hai lối cấu trúc trên Trần Như Đắc đều thành công làm cho các thiên truyện đều giản dị trong sáng với độ dài ngắn hợp lý không có cảm giác bề bộn rối rắm hoặc sơ lược dễ dãi.

"Một thời lính" sẽ là một đóng góp của Trần Như Đắc vào phong trào truyện ngắn và ký ViệtNamđương đại. Tập truyện hầu hết viết về người lính nhưng vẫn toát lên hơi thở cuộc sống nông thôn đương đại mà trong đó có tác động không nhỏ bàn tay tâm trí của những người lính trở về từ những chiến trường năm xưa.

                                                                                                                                                   N.H.N

 

Ước mơ xuân

Tôi gọi là ước mơ xuân vì đó là ước mơ vào đời của tôi. Cô bạn Kim thì có vẻ không hài lòng lắm nó bảo: "Trai thời loạn... Nay đang hòa bình mà lại mơ thành chiến sĩ dở hơi!". Tên là Kim có khác cái gì cũng châm chọc được. Kim ơi mình biết cậu tiếc cho sức học của mình. Cậu thường bảo: "Học giỏi như Hải nên thi vào đại học Tài chính không thì Y hay Luật cũng được vào bộ đội nó phí đi".

Ồ đúng là cô bạn chẳng hiểu tý gì về người bộ đội hôm nay cả. Từ lâu tôi đã mê cái dáng vẻ nhanh nhẹn và cứng rắn của anh bộ đội. Nhìn những thân hình trai tráng khỏe mạnh trong bộ quân phục tôi thấy như trong họ tiềm ẩn một sức mạnh lạ kỳ nhất là những chàng sĩ quan trẻ gương mặt họ toát lên vẻ thông minh hóm hỉnh đáng yêu. Tôi có một anh trai và một anh rể là bộ đội tôi rất quý mến tuy rằng các anh thỉnh thoảng mới được ghé qua nhà. Anh Sơn nói với tôi: "Nếu có nguyện vọng vào bộ đội trở thành sĩ quan cũng được. Nhưng nên nhớ sĩ quan bây giờ tiêu chuẩn cũng cao lắm phải có đủ ba bằng: Bằng đại học bằng Chính trị và bằng ngoại ngữ nữa...". Tôi biết vậy và chính vì vậy mới mơ ước...

Tôi đi khám sức khỏe chiều cao thì có thừa vì tôi đã được mệnh danh là "Hải sếu" nhưng chính cái chiều cao 1 7m của tôi lại làm "Pi-nhê" bị tụt xuống. Còn cân nặng thì quả là gay go được có 43kg. Thế là phải nhờ đến "sức" của bố chẳng phải bố tôi có quen Thành đội trưởng ông thuyết phục: "Chiều cao mới khó chứ còn cân nặng thì chỉ cần bồi dưỡng cho cu cậu một thời gian là lên cân ngay anh đừng ngại".

Thành đội trưởng cũng khó xử bởi đợt tuyển quân này người xin đi thì nhiều mà người xin miễn hoãn lại ít. Bây giờ yêu cầu văn hóa lại khá cao phải tốt nghiệp phổ thông trung học không đủ mới lấy xuống lớp 10 lớp 11 vì thế nên tôi đã trúng tuyển.

Kim giận. Có lẽ cô nàng cho là tôi không chịu nghe lời khuyên chân tình. Kim và tôi thân nhau từ hồi lớp 10. Đó là một cô gái đáo để chẳng chịu thua kém ai cái gì nhưng lại cũng rất tình cảm. Nó thường tâm sự với tôi sau này sẽ thi vào đại học Báo chí trở thành phóng viên để được đi đây đi đó. Nó rất phục sức học của tôi và còn vạch cho tôi một tương lai theo trí tưởng tượng của nó: "Cậu phải trở thành một tiến sĩ Kinh tế đem hiểu biết của mình góp phần làm cho nền kinh tế của đất nước phát triển mạnh lên nữa không thì cậu sẽ trở thành Luật sư luật pháp bây giờ cũng quan trọng lắm không có luật xã hội cũng sẽ không phát triển đúng quỹ đạo được. Cậu có thể làm tư vấn pháp lý cho các công ty hoặc không thì nghiên cứu Luật Quốc tế luật Thương mại giúp các nhà đầu từ...".

Viễn cảnh của Kim vạch ra cũng đẹp lắm. Nhưng không hiểu sao có một sức mạnh khác cứ hút tôi về với "ngành" quân sự. Tôi biết vào quân đội là vất vả lắm dù có là một kỹ sư quân sự thì việc đầu tiên vẫn phải rèn luyện như một người lính trước đã. Rồi còn bao nhiêu cái ràng buộc kỷ luật nghiêm không thể tự do thoải mái như một anh trí thức dân sự. Đồng lương dù có khá hơn cái thời ông bố đi bộ đội nhưng đó vẫn chỉ là lương không có ai đi bộ đội mà giàu được.

Nhưng rồi tình bạn vẫn cứ là tình bạn. Kim vẫn đến với tôi vào chiều 29 tết. Thì ra những ngày qua cô nàng còn làm quen cả với một anh chàng thượng úy trẻ tuổi nữa. Kim thú nhận với tôi: "Nói thật trước đây mình cũng hơi ác cảm với mấy "chú bộ đội". Chả là một hôm Kim cùng với mấy đứa bạn gái đi chợ có gặp mấy chàng lính trẻ bọn Kim đã cố tình nép vào một chỗ để chờ họ đi qua thế mà mấy anh chàng không biết ý quây lấy bọn Kim mà trêu ghẹo. Kim và mấy cô bạn ngượng chín cả mặt cuối cùng Kim đành phải giở "món võ" đáo để của mình mới rút lui được. Còn bây giờ chàng thượng úy mới quen của Kim lại rất ga lăng mà cũng rất giản dị anh đã tốt nghiệp Đại học kỹ thuật Quân sự đang là kỹ sư trợ lý Kỹ thuật của một đơn vị pháo. Kim quen Lượng cũng rất tình cờ.

Nhân dịp ngày rằm Kim theo mẹ lên lễ đền Hùng. Vào đến đền Giếng nơi thờ hai công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa thì gặp một "ông Tây du lịch". Tự nhiên mấy từ Anh ngữ học được ở trường cứ muốn bật ra thành lời. Thế là Kim nói luôn: "Good morning!" ông Tây vui vẻ chào lại Kim ra vẻ thành thạo nói tiếp: "Are you from England?" (Anh từ nước Anh đến phải không?) - "I m from Canada" (Tôi từ Ca -na -da tới". Kim thấy vốn từ vựng của mình có hạn nên định rút lui nhưng không kịp nữa rồi. Người thanh niên Ca - na - da rất vui mừng thấy một thiếu nữ bắt chuyện liền nắm chặt lấy tay Kim. Chàng ta phát ra một tràng tiếng Anh mà Kim chỉ loáng thoáng hiểu được. Anh ta muốn biết lịch sử ngôi đền Giếng mà họ đang viếng thăm. Kim đỏ mặt chưa biết trả lời ra sao cô đình tìm từ xin lỗi để cáo lui. Thật bất ngờ đúng lúc ấy một chàng sĩ quan còn trẻ đeo quân hàm Thượng úy đứng đằng sau Kim từ lúc nào. Anh lịch sự chào người bạn ngoại quốc và với một vẻ tự tin bằng tiếng Anh kể lại rất tài tình và lưu loát sự tích ngôi đền cùng với truyền thuyết về hai nàng công chúa con của vua Hùng. Chàng trai Ca-na-da vô cùng thích thú lắng nghe và ghi chép.

Từ đó Kim và thượng úy Lượng quen nhau. Kể cho tôi nghe lại chuyện đó với đầy vẻ thán phục Kim kết thúc: "Thôi được cậu vào quân đội nhưng vẫn phải tiếp tục học tấp đấy nhé. Phải trở thành kỹ sư - sĩ quan hẳn hoi". Tôi đùa lại: "Nhất định rồi tớ sẽ phấn đấu trở thành Tướng". Kim nghiêm nét mặt: "Tớ nói nghiêm chỉnh đấy hai đứa phải cược với nhau đấy!"

Tôi thấy vui thật sự vì người bạn gái thân nhất đã hiểu được mơ ước của mình. Chỉ còn ít ngày nữa sẽ đến ngày lên đường. Tôi sẽ trở thành một người lính tôi sẽ thể hiện quyết tâm của mình ngay từ ngày huấn luyện đầu tiên. Người ta bảo khi kiểm tra bắn song ai bắn trúng cả ba viên vào vòng 10 thì được thưởng. Nếu vậy tôi sẽ cố gắng để giành lấy ba vòng mười quý giá để về nói chuyện với Kim.